ÁNH MẮT TÂM LINH

Mục tiêu: Đặt lại toàn bộ các vấn đề tưởng chừng như rất bình thường để khám phá ra những ánh sáng tuyệt diệu hàm ẩn trong đó. Phương thế: Nhìn mọi vấn đề Theo Ánh Mắt Tâm Linh. Đây là một món ăn mang mùi vị khá đặc biệt, có thể lúc đầu hơi đắng, gây khó chịu chút xíu, nhưng càng thưởng thức, càng cảm thấy thú vị ngọt ngào. Xin quý vị vui lòng nếm thử cho biết hương vị.


Thursday, June 30, 2005

HAI QUAN NIỆM VỀ DANH XƯNG CHA-CON

NÓI THÊM VỀ VẤN ĐỀ DANH XƯNG TRONG GIÁO HỘI

Theo Linh Mục Ngô Tôn Huấn

Tôi cần nói thêm một lần nữa về vấn đề này. Lý do là cho đến nay còn một số ít người vẫn đặt vấn đề danh xưng trong Giáo Hội Việtnam và giải thích sai lạc cũng như đòi hỏi sửa đổi không hợp lý về một số danh xưng quen dùng từ lâu trong giới Công giáo Việtnam.
Cụ thể, có người đặt vấn đề thay đổi các danh xưng như: Cha, Thầy, Sơ, Đức Ông, Đức Cha, Đức Hồng Y, Đức Thánh Cha.. cũng như một số hình dung từ (metaphor)như con chiên, đàn chiên, chủ chăn… và cả danh từ giáo dân (laity) nữa.
Nhận định của một vài tác giả về vấn đề này chỉ là ý kiến riêng, không dựa trên căn bản truyền thống, giáo lý hay Kinh Thánh nào của Giáo Hội nên chắc chắn không có giá trị thuyết phục và chắc chắn tuyệt đại đa số giáo dân Viêtnam không ai để ý đến. Tuy nhiên, đối với những người ngoài Công Giáo và riêng với một vài nhóm thù nghịch Giáo Hội Công Giáo, thì những ý kiến này có thể giúp ích cho họ trong việc tiếp tục đả kích Giáo Hội.
Và đây là lý do khiến tôi phải lên tiếng một lần nữa dù có bị các tác giả kia gán cho nhãn hiệu “bảo thủ, lỗi thời… cố chấp... ”
Trước hết, phải nhận rằng chỉ trong giới Công Giáo Viêtnam mới có nhửng danh xưng mà các tín hữu khác trong toàn Giáo Hội không có. Và chỉ trong ngôn ngữ Việtnam chúng ta mới có những kiểu nói, nhửng danh xưng mà tuyệt nhiên không tìm thấy trong một ngôn ngữ nào trên thế giới.
Người ngoại quốc, khi học tiếng Việt, rất khổ tâm vì không biết khi nào phải gọi người đối diện bằng cụ, ông, bà, cô, bác, chú,anh, chị , em ..v.v và lúc nào phải xưng hô là con, cháu, tôi, chúng tôi, mày/tao… Sở dĩ thế, vì chỉ trong ngôn ngữ Việtnam, mới có những cặp danh xưng như ông-bà /cháu, cha-mẹ-ba- má../con, anh-chị/em . Quí vị/tôi-chúng tôi, mi, mày /tao … Lại nữa, thật vô cùng khó khăn cho họ để hiểu và phân biệt nghĩa của những tiếng như : cái nhà, con cái , thằng bé, đứa bé, con chó, con bé , trẻ con ..
Trong moi ngôn ngữ tây phương thì chỉ có cặp đại từ (pronouns) I/you; Je/ Tu-Vous.
Yo/ Tu-Usted…Io/Tu- Lei …được dùng trong mọi trường hợp từ gia đình, đến mọi tương giao xã hội và ngày cả trong cầu nguyện với Chúa, Đức Mẹ và các Thánh.
Người Mỹ khi gặp một Giám Mục thì chào : Good morning Bishop, nhưng khi nói chuyện tiếp , thì dùng I/you hay We/you , ..trong khi người Công giáo Viêtnam thì lúc nào cũng phải Thưa Đức Cha, /con hay chúng con vì trong ngôn ngữ Việtnam không có cặp I/You., Je/ Vous …như trong Anh và Pháp Ngữ
Vì thế, thực buồn cười khi có người nói: Đức Tân Giáo Hoàng Bênêdictô XVI đã tỏ ra “bình dân” hơn các Giáo Hoàng trước khi ngài dùng chữ Tôi” thay vì “Ta”, “anh chi em”, thay vì “các con” trong lúc nói với giáo dân !.Tức cười là vì Ngài nói bằng tiếng Ý và tiếng Anh hay tiếng Đức thì làm gì có từ ngữ nào là “Tôi hay Ta hoặc “các con” ? Ngài chỉ dùng đại đanh từ” I hay Io” và người dịch đã Việt hóa thành “Tôi hay Ta” “anh chị em” (brothers and sisters” thành “các con”chứ trong tiếng Ý hay bất cứ ngôn ngữ Tây phương nào khác thì làm gì có chữ nào là “tôi hay Ta” như trong tiếng Việt !
Vây mà người ta cũng nêu chi tiết trên để bênh vực cho điều mình muốn chỉ trích và đòi thay đổi về một số danh xưng quen dùng trong giới Công Giáo Việtnam , đại để như sau :
I- Danh xưng Đức Ông, Đức Cha, Đức Hồng Y, Đức Thánh Cha
Người ta nêu lý do là các chữ “ đức” ở trên lẫn lộn với chữ “Đức” trong ngữ cảnh “Đức Chúa, Đức Kitô, Đức Mẹ”
Thật ra thì đây chỉ là thói quen đã dùng từ lâu nên đã trở thành thông dụng trong giới Công Giáo Việtnam. Mặt khác, đứng về mặt văn phạm (grammar) thì đây lại là thí dụ cụ thể về nét đặc thù và đa dạng của các mạo từ ( articles) trong Việt ngữ.
Tiếng Pháp chỉ có các mạo từ le, la, les, un, une, des để chỉ giống và số (genre et nombre) trong khi tiếng Việt có biết bao mạo từ khác nhau và dũng lẫn lộn gây nhiều khó khăn cho người ngoại quốc học tiếng Việt.
Trong các danh xưng nêu trên thì chữ “đức” có thể được phân tích như tiếng mạo từ (article) đặt trước danh từ chung, tương tự như cái nhà. Cái ông này, con chó, con mắt..nhưng cũng có thể hiểu như là thành phần của một danh từ chung (common noun) không thể tách rời ra được vì sẽ làm vô nghĩa hay tối nghĩa cho danh từ chung này . Thí dụ Đức Cha là danh xưng chỉ Giám Mục. Nếu bỏ chữ “Đức” đi thì chỉ còn lại chữ “cha” tiếng chung chỉ Linh Mục nên sẽ làm mất nội dung của từ ngữ muốn chỉ chức Giám Mục.
Nếu ta bắt bẻ rằng gọi Giám Mục là Đức Cha, Hồng Y là Đức Hồng Y thì sẽ lẫn lộn với chữ Đức trong “Đức Kitô, Đức Mẹ”. Điều này xem ra bề ngoài có vẻ hợp lý nhưng nếu đi sâu vào ngữ pháp Việtnam thì khó có thể giải thích xuôi tai được vấn nạn sau đây:
Nếu tiếng “Đức” chỉ được dùng để nói về Chúa như Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con , Đức Chúa Thánh Thần hoặc Đức Mẹ Maria thì tiếng Việt còn danh từ kép là “đức ông chồng hay “ đức lang quân” Đức Từ Cung ( Mẹ Vua) Đức Khổng Tử, Đức Phật Thích Ca nữa thì sao ?Những chữ “Đức” ở đây có đồng nghĩa không và dùng lẫn lộn như vậy thì anh em Phật tử và những người theo Đạo Nho có phiền hà gì không ?
Lại nữa, chữ CON trong từ Con Người=Son of Man= Hijo del Hombre=Fils de L’ Homme là từ ngữ chỉ Chúa Giêsu Ngôi Lời nhập thể, có đồng nghĩa với chữ con trong các từ ngữ con khỉ , con gái, con trai, con hoang…không và như vậy có lẫn lộn và xúc phạm đến Chúa Giêsu hay không ?
Và giới từ “cái” trong các từ ngữ cái xẻng, cái răng, cái ông này, cái chị này… có đồng nghĩa với nhau không ?
Tôi thiết nghĩ không ai lại “vạch lá tìm sâu” để thắc mắc về việc dùng các mạo từ “con”, “cái” và “đức” trong các ngữ cảnh trên đây vì đó là nét phong phú và đa dạng của Việt ngữ và được dùng với nghĩa chung của danh từ đi kèm thay vì tách rời ra với nghĩa riêng của nó để phải lấn cấn với một số ngữ cảnh quen dùng.
Nói khác đi, khi người Công giáo nói Đức Chúa Giêsu hay Đức Mẹ thì chữ Đức đi kèm để nói lên mức tôn thờ, (adoration) tôn kính (veneration) đặc biệt dành cho Chúa và Mẹ, nhưng khi nói Đức Ông, Đức Cha, Đức Hồng Y .. thì chỉ muốn nói đến tước vị trong Giáo Hội của các chức sắc này chứ không nhằm biểu dương mức tôn thờ, tôn kính như khi nói Đức Chúa Cha... Đức Maria mặc dù về từ ngữ thì giống nhau trong cả hai trường hợp. Thật ra, các từ ngữ Đức Ông, Đức Cha, Đức Hồng Y, Đức Giáo Hoàng cũng không được dịch sát nghĩa các từ Monsignor, Bishop, Cardinal, Pope trong tiếng Anh và các tiếng Tây phương khác.
Nhưng vì người Công giáo Việtnam quen dùng từ xưa đến nay và người có thẩm quyền thay đổi là Hội Đồng Giám Mục Việtnam lại không chính thức nói gì thì AI có tư cách để đòi thay đổi ?
Ta hãy xem các giáo hữu Âu Mỹ xưng hô thế nào trong những trường hợp trên.
Trong các ngôn ngữ Tây Phương người ta không có kiểu nói Đức Ông ,Đức Cha, Đức Hồng Y.. Đức Giáo Hoàng như chúng ta , nhưng khi đối thoại với các vị này người ta lại có kiểu nói mà mình không có và dịch tương đương được ,thí dụ khi thưa Đức Cha, thì người Anh- Mỹ –Pháp nói : Your Excellency = Éxcellence = Mon Seigneur
Thưa Đức Hồng Y = Your Eminence = Votre Éminence; Thưa Đức Thánh Cha = Your Holiness = Votre Sainteté…
Riêng từ Đức Ông( Monsignor) thì không biết từ đâu có lối xưng hô này vì Việt ngữ không có từ tương đượng cùng ý nghĩa với danh xưng này trong Anh hay Pháp Ngữ.
Điều quan trọng là phải giải thích cho giáo dân và cả người ngoài Công Giáo biết rằng Đức Ông (Monsignor) chỉ là một tước vị ( title) danh dự mà Giáo Hội ban tặng cho một Linh mục xuất sắc nào đó hay cho các nhân viên của Tòa Thánh làm việc trong các Cơ Quan trung ương ở Giáo Đô hay trong các phái bộ ngoại giao của Vatican ở các quốc gia trên thế giới. Tước Đức Ông không phải là một chức thánh ( ordo) nên Đức Ông cũng chỉ là một linh mục thôi. Ngược lại ,danh tước Đức Cha là tước vị của một Giám Mục ,tức là người có chức thánh cao nhất trong Giáo Hội. Hồng Y là một tước vị cao nhất mà Giáo Hội ban cho một Giám Mục và đôi khi cũng cho một Linh mục xuất sắc nào đó ( như trường hợp các linh mục Every Dulles và Henri de Lubac thuộc Dòng Tện và Yves Congar Dòng Đaminh đã được vinh thăng làm Hồng Y ). Theo Giáo Luật số 349 thì “ Các Hồng Y họp thành Hồng Y Đoàn riêng biệt với thẩm quyền bầu cử Đức Thánh Cha và phụ giúp Đức Thánh Cha trong việc quản trị Giáo Hội hoàn vũ”. Hồng Y không phải là một thánh chức mà chỉ là một tước vị cao nhất do Đức Thánh Cha ban tặng và bổ nhiệm với quyền chọn lựa Giáo Hoàng mới khi đương kim Giáo Hoàng qua đời. Hồng Y và ngay cả Đức Thánh Cha cũng chỉ có chức Giám Mục mà thôi nhưng với quyền hạn và trách nhiệm lớn hơn Giám Mục.
II. Danh xưng “Giáo Dân= laity”

Có người đề nghị đổi danh xưng này thành “người tín hữu” hay Kitô hữu.
Thật ra, trong Giáo Hội thì mọi thành phần Dân Chúa từ Giáo Hoàng, Hồng Y, Giám Mục. Linh mục, Phó Tế, Nam tu, Nữ tu và Giáo dân đều là Người tín hữu ( faithful) Chúa Kitô hay Kitô hữu ( Christians ) vì đều tin và nhận Chúa Kitô là Đấng Cứu Thế (Savior). Qua Phép Rửa, tất cả đều bình đẳng và có phẩm giá (dignity) như nhau trước mặt Chúa và trong tư cách làm con cái Chúa và anh chị em với nhau trong Chúa Kitô.
Có khác chỉ khác nhau về ơn gọi (vocation) và đặc sủng (charism) để đảm trách những nhiệm vụ khác nhau trong Giáo Hội mà thôi.
Thánh Công Đồng Vaticanô II đã định nghĩa như sau về người giáo dân (laity) “ Danh hiệu giáo dân ở đây được hiểu là tất cả những Kitô hữu không có chức thánh hoặc bậc tu trì được Giáo Hội công nhận..” ( x.Lumen Gentium (LG) , số 31).Nói khác đi, giáo dân là thành phần không thuộc hàng giáo sĩ (clergy) và Tu Sĩ (Religious) nhưng cùng với các thành phần này họp thành Dân Chúa ( God’s People) trong Giáo Hội.
Như thế phải nói với danh hiệu giáo dân để phân biệt với hàng giáo sĩ và tu sĩ. Nếu dùng danh hiệu Kitôhữu thì chỉ đúng một phần về nội dung những không nói rõ được ơn gọi và địa vị của mình trong Giáo Hội vì giáo sĩ và tu sĩ cũng là Kitôhữu như giáo dân qua Phép rửa.(baptism) và chỉ khác giáo dân về ơn gọi (vacation) mà thôi.
Mặt khác, trên thực tế, danh hiệu Kitôhữu (Christian) không nói lên đúng được căn tính (identity) của Người tín hữu Chúa Kitô thuộc Giáo Hội Công Giáo (Roman Catholic Church). Lý do : tất cả các anh em Tin lành thuộc mọi giáo phái tin nhận Chúa Kitô đều xưng mình là Kitô hữu (Christian). Do đó, nếu một người Công Giáo chỉ nói mình là Kitôhữu không thôi, thì làm sao cho người ta nhận ra mình là giaó dân trong Giáo Hội Công Giáo ? Người Anh, Mỹ phân biệt rất rõ : hoặc nhận mình là Catholic (Công giáo) Anglican (Anh Giáo) Baptist, Methodist, hay Lutheran v.v. Người giaó dân nói tiếng Anh luôn luôn nói mình là Catholic chứ không chỉ là Christian thôi vì Christian là danh hiệu chung cho mọi người tin Chúa Kitô thuộc các giáo phái Tin lành kể cả người Công Giáo. Người ta có thể là vừa là Catholic và là Christian (như người Công giáo). Nhưng là Christian thì không hẳn có nghĩa là Catholic (trường hợp anh em tin lành). Chúng ta phải hoan hỉ xưng mình là người Công giáo vì thuộc về Giáo Hội do chính Chúa Giêsu thiết lập trên nền tảng các Tông Đồ với ba đặc tình căn bản là thánh thiên (sanctam) ( công giáo) (catholicam) và tông truyền (apostolicam). Công giáo vì là Giáo Hội dành cho và mời gọi hết mọi người gia nhập chứ không riêng cho một dân tộc nào. Đây là đặc tính phổ quát (universality) của ơn cứu độ do Chúa Kitô mang đến cho toàn thể nhân loại. Có người không hiểu lý do sâu xa này nên đã giải thích sai lầm công giáo là công cộng (public) và dịch Đạo Công Giáo là ( Public Religion) một từ ngữ không có trong danh mục các tôn giáo trên thế giới.
Từ ngày Đạo Công giáo được du nhập vào Việtnam, từ lâu chúng ta đã có danh xưng “giáo dân” để phân biệt với “lương dân” tức là những người chưa gia nhập Giáo Hội Công Giáo. Danh xưng “giáo dân’(laity) vừa nói lên bậc sống và ơn gọi của người Kitô hữu sống giữa trần thế và trong Giáo Hội bên cạnh các thành phần giáo sĩ và tu sĩ,vừa diễn tả đúng căn tính của mình là người Kitôhữu Công giáo ( Catholic christian) Nghĩa là không muốn bị lẫn lộn với những anh chị em tin Chúa Kitô nhưng đang sống bên ngoài Giáo Hội Công Giáo như đã nói ở trên.
Vậy, đề nghị bỏ danh xưng : “giaó dân” để thay bằng “Kitôhữu” là điều không hợp lý xét về hai khía cạnh thần học và thực hành.
III- Danh xưng “Cha-con”

Tôi lại bất đắc dĩ phải nói một lần nữa về vấn đề này vì một số người vẫn cố tình không hiểu hoặc hiểu sai lạc nhưng vẫn nói như thể mình biết chính xác và đòi hỏi một điều hợp lý. Tôi phải nói dù cho người ta có hiểu lầm và chỉ trích rằng tôi cố “ăn thua đủ” để được làm “cha” hoặc “sống như cha” thì quan trọng hơn “là cha’.
Vấn đề ở đây không phải là đòi được “làm cha” và bắt ai phải “xưng con” với mình, mà chủ yếu là để giải thích và bênh vực lý do Giáo Hội cho phép gọi linh mục là “cha” dựa trên giáo lý của Thánh Phaolô và truyền thống lâu đời trong Giáo Hội..
Tôi cũng không muốn “ bút chiến” với ai về vần đề này. Nhưng vì có người vẫn hiểu sai và chỉ trích Giáo Hội về việc này nên buộc lòng tôi phải nói lên thêm một lần nữa mà thôi.
Trước hết tôi xin nói danh xưng ‘cha” dành cho các linh mục Công Giáo là một truyền thống có từ lâu trong Giáo Hội. Sự kiện cụ thể là không phải chỉ có người Công giáo Việtnam gọi linh mục là “cha” mà tất cả các tín hữu Công giáo trên thế giới cho đến nay đều gọi như vậy., và quan trọng là không có ai thắc mắc gì về vấn đề nay,trừ mấy anh em Tin lành trước đây và nay có thêm vài người Công Giáo Việtnam ở Mỹ.
Trong thực tế , không ai chối cãi được sự kiện này: Người Anh Mỹ gọi linh mục là Father, người Pháp gọi Père, Người Ý và Tây Ban Nha gọi Padre… Đặc biệt người Pháp và Ý còn gọi Révérend Père (Reverendissimo Padre) tức là Cha đáng kính nữa!. Người Mỹ khi gặp một linh mục thì chào Good morning Father, chứ không hề chào là Good morning Priest bao giờ! Người Pháp cũng nói Bonjour Mon Père! .Người Tây Ban Nha chào Buenos Dias Padre …Vậy họ quá “lạc hậu” ,”ngu dốt” hay sao mà xưng hô “kỳ cục” như vậy? Nếu thế thì phải nhờ mấy người “ Việtnam tiến bộ ” ở Mỹ dạy cho họ biết mà thay đổi cho hợp thời hơn.
Nhưng các Giám mục (Việtnam hay ngoại quốc), sau khi truyền chức cho tân linh mục và khi bổ nhiệm linh mục thì đều dùng danh xưng cha khi nói cũng như viết trên giấy tờ.
Vậy, tại sao Giáo Hội khắp nơi lại cho làm việc “ vô lý” như thế ?
Để trả lời cho câu hỏi này, một lần nữa, đây là căn bản Kinh Thánh : “ ..Trong Đức Kitô Giêsu, nhờ Tín Mừng, chính tôi đã sinh ra anh em” ( 1Cr 4:15). Vì thế Thánh Phaolô đã gọi Timôthê là “ người con tôi đã sinh ra trong đức tin” (1 Tim 1:2).
Đồng một quan điểm, Thánh Pherô cũng dạy: “ Vì anh em đã được tái sinh, không phải do hạt giống mục nát mà do hạt giống bất diệt ,nhờ Lời Thiên Chúa hằng sống và tồn tại mải mãi… Đó chính là Lời đã được loan báo cho anh em như một Tin Mừng” (1 P 1: 23-25).
Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã trao nhiệm vụ loan báo, giảng dạy Tin Mừng và làm phép rửa trước hết cho các Tông Đồ và tiếp theo cho những người kế vị là các giám mục va các phụ tá là hàng linh mục thừa tác (ministerial priesthood)( x. Mt 28:19-20).
Cho nên, dựa vào lệnh truyền của Chúa Giêsu và giáo lý của Thánh Phaolô và Phêrô, Thánh Công Đồng Vaticanô II đã dạy như sau trong Hiến Chế Tín Lý Lumen Gentium: “Linh mục phải săn sóc các tín hữu như những người cha trong Chúa Kitô vì đã sinh họ cách thiêng liêng nhờ phép rửa và giáo huấn" (x.1 Cor 4,15và 1P 1.23) ( x. LG.số 28)
Nói khác đi, cùng với các giám mục, linh mục được trao phó cho nhiệm vụ thánh hóa, giảng dạy để “tái sinh” con người nhờ hạt giống bất diệt là Lời Chúa và phương tiện cứu độ là Phép rửa. Đây là vai trò và sứ vụ “Người Cha thiêng liêng”( Spiritual Fatherhood) của hàng giáo sĩ thừa tác (Ministerial clerics= Giám mục ,Linh mục).
Ai muốn thông hiệp với Giáo Hội thì phải tuân theo giáo lý này của Giáo Hội, dựa trên nền tảng Kinh Thánh. Đây không phải là lý thuyết vô căn cứ của ai hay một nhóm người nào, mà là giáo lý, tín lý và truyền thống của Giáo Hội. Đây là vần đề có liên quan mật thiết đến đức tin Công Giáo, vì nếu không tin giáo sĩ thừa tác là những người đang tiếp tục sứ vụ của các Thánh Tông Đồ, đang thay mặt Chúa Giêsu để giảng dạy và cử hành các Bí Tích thì giáo dân dựa vào căn bản nào để nghe giảng dạy và lãnh nhận các Bí tích, đặc biệt là bí tích Rửa Tội,Thánh Thể và Hòa giải từ tay Giám mục và Linh mục ?
Như vậy, khi gọi các giáo sĩ thừa tác là “Cha” có nghĩa là chấp nhận giáo lý của Thánh Phaolô, người đã “sinh ra Timôthê qua Tin Mừng và Phép Rửa” và Công Đồng Vaticanô II đã nhắc lại trong Hiến Chế Tín Lý (Dogmatic Constitution) Lumen Gentium như đã trích trên đây. Nếu đây không phải là tiêu chuẩn vững chắc để tin và thực hành thì những ai chống đối dựa vào căn bản nào để phi bác và đòi thay đổi ?
Sở dĩ người giáo dân Việtnam gọi các Giám mục, linh mục là “cha” và xưng “con” là vì nét đặc thù của văn hóa và ngôn ngữ Việtnam, một điều không tìm được trong bất cứ ngôn ngữ nào trên thế giới.. Trong gia đình, theo văn hóa và ngôn ngữ Việtnam, con cái phải luôn luôn nhận mình là con khi nói chuyện hay thưa gửi cha mẹ. Phải xưng “cháu” hay “con” khi nói với ông bà, cô, chú, bác, cậu mợ. Điều này tuyệt nhiên không có trong bất cứ ngôn ngữ nào trên thế giới đặc biệt là ngôn ngữ tây phương, mặc dù người Mỹ, Pháp, Ý, Đức Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha .v.v đều gọi linh mục là “ Cha’ ( Pater, Father, Père, Padre..) Họ không xưng “con” vì trong ngôn ngữ của họ không có lối nói này chứ không vì họ muốn bình đẳng với cha mẹ hay với linh mục, giám mục.
Những người chỉ trích danh xưng “cha-con” đã nại lý do một cha trẻ đáng tuổi con cháu không lẽ bắt cụ già phải chào là “cha” hay sao ? Hỏi như vậy là đã đi từ phạm vi niềm tin sang lãnh vực văn hóa, phong tục. Nhưng trước hết phải nói ngay là có ai bắt cụ già kia gọi thế đâu mà buộc tội vô lý? Nếu cụ tình nguyện gọi linh mục trẻ là “cha’ thì cụ phải hiểu rằng cụ gọi thế vì tôn trọng vai trò đại diện Chúa Kitô của linh mục, dù già hay trẻ chứ không phải vì văn hóa phong tục hay bị ai bắt phải gọi như vậy.
Nhưng đây là thực tế: khi cụ già kia đến Nhà thờ, vào tòa xưng tội với một linh mục trẻ thì cụ sẽ nói thế nào? cụ có nói theo văn hóa Việtnam rằng “ này cháu , cháu giải tội cho ông đi” hay sẽ nói theo niềm tin Công Giáo là: Xin Cha giải tội cho tôi hoặc con? Tôi không tin có cụ già Việtnam nào, và ngay cả cha mẹ ruột của linh mục lại xưng hô kiểu ” văn hóa tôn ti” như trên trong trường hợp này.
Vậy tại sao khi lãnh Bí tích thì nhìn nhận linh mục là đại diện của Chúa Kitô để không phân biệt tuổi tác, liên hệ gia đình mà gọi linh mục là cha, nhưng khi ra khỏi nhà thờ thì lại không muốn gọi vì nại lý do tôn ti văn hóa, không cho phép người già gọi người trẻ như thế ? Vậy đức tin đứng chỗ nào trong thực hành ?
Và một câu hỏi lần chót cho những ai không đồng ý gọi linh mục là cha: quí vị căn cứ vào tiêu chuẩn nào, căn bản nào để đả kích truyền thống này của Giáo Hội vốn có từ lâu trong mọi nền văn hóa, ngôn ngữ ?
Nếu dựa vào lời Chúa Giêsu trong Mt 23:9 theo đó Chúa nói “đừng gọi ai dưới đất là cha” thì chỉ có các nhóm Tin lành (protestants) quen đọc và giải thích Kinh Thánh theo nghĩa đen của từ ngữ (literal meaning) nên mới đả kích Giáo Hội Công Giáo về việc này mà thôi. Giáo Hội Công Giáo không đồng quan điểm với họ nên vẫn tiếp tục dùng danh xưng “Cha” trong nhiều trường hợp như sau:
Trước hết, trong truyền thống có từ mấy thế kỷ sơ khai, Giáo Hội đã tôn phong một số giáo sĩ –và sau này trở thành Thánh- vào bậc “Giáo Phụ của Giáo Hội” (Church Fathers). Đó là các Thánh Augustine (354-430) Ambrosio(339-397, Jerome(347-420) John Chrysostom(344-407 )… tức là những vị đã sống gần thời đại các Tông Đồ, có đời sống thánh thiện và có giáo lý vững chắc khi giảng dạy.
Mới đây nhất, Đức tân Giáo Hoàng ,trong bài giảng đầu tiên ngày 7 tháng 5 vừa qua tại Đền Thánh John Latran , đã mở đầu như sau:
Dear Father Cardinals (Thưa quí Giáo Phụ Hồng Y)
- Dear brothers in the Episcopate ( Thưa Chư Huynh Giám mục)
- Dear Brothers and Sisters ( Anh chi em thân mến)
Nếu không được gọi ai dưới đất là “Cha” thì Đức Tân Giáo Hoàng, người từng nắm giữ kho tàng giáo lý đức tin Công Giáo trong hơn 20 năm qua, có xúc phạm đến Thiên Chúa là CHA khi ngài gọi các Hồng Y là các “ Cha= Fathers" hay không ?
Và ngay chính ngôi vị Giáo Hoàng, cả Giáo Hội đều gọi là Đức Thánh Cha (Holy Father) mà sao chưa thấy Giáo Hoàng nào lên tiếng sửa sai ai về danh xưng này dành cho mình ?
Thứ đến, trong các Dòng Tu, danh xưng Cha Bề Trên (Father Superior=Père Supérieur) vẫn thông dụng cho đến ngày nay ở khắp nơi trong Giáo Hội.
Vậy có trái với tinh thần câu Kinh Thánh Mt 23:9 không ?
Trong một bài viết trước đây, tôi đã có dịp giải thích về câu Kinh Thánh trên đây. Tôi chỉ nhắc lại ở đây điểm then chốt là câu nói trên của Chúa Giêsu phải được hiểu trong tâm cảnh (mentality) một lời lên án thái độ háo danh, đạo đức giả của nhóm Biệt phái Pharisi thời đó hơn là một lời ngăn cấm con người dùng danh xưng “Cha” với nội dung xúc phạm đến Thiên Chúa là CHA.
Trong phụng vụ thánh của Giáo Hội thì Latria là mức tôn thờ, kính trọng cao nhất dành riêng cho một mình Thiên Chúa. Đức Mẹ Maria được tôn kính (veneration) ở mức Hyperdulia, tức là dưới mức tôn thờ (adoration) Latria dành riêng cho Thiên Chúa mà thôi. Mức tôn kính cuối dùng dành cho các Thánh Nam Nữ là Dulia.
Như thế, Chúa Giêsu chỉ cấm chúng ta dành cho bất cứ tạo vật nào dưới đất mức tôn thờ Latria dành riêng cho một Chúa Cha chứ không ngăn cấm việc gọi những người cộng tác với Thiên Chúa trong chương trình sáng tạo và cứu chuộc con người là cha me thể lý hay tinh thần.
Thật vậy, từ thời Cựu Ước, Chúa đã ban điều răn thứ 4 dạy con cái loài người như sau:
“Ngươi hãy thờ cha kính mẹ để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi” (Xh 20:12)
“Honour your father and your mother so that you may have a long life in the land Yaweh your God has given to you”
Như thế, Chúa đâu có cấm gọi ai dưới đất là “cha”. Ngược lại, Chúa dạy con cái loài người phải gọi những người sinh ra mình về mặt thể lý là cha, là mẹ vì vai trò cộng tác với Chúa trong chương trình sáng tạo (procreation)l oài người. Về mặt thiêng liêng, các Tông đồ và nay là các giáo sĩ thừa tác (Giám mục, linh mục) cộng tác với Chúa để tái sinh (rebear) con người qua Tin Mừng và phép rửa như Thánh Phaolô và Phêrô dạy Vì thế Giáo Hội đã cho phép dùng danh xưng “cha” cho các vị này trong mọi nền văn hóa nhân loại từ bao lâu nay.
Các Giám mục đều gọi linh mục là Cha và giới thiệu với giáo dân như vậy trong mọi hoàn cảnh mục vụ, nên giáo dân khắp nơi mới dùng danh xưng này mỗi khi phải tiếp xúc với một linh mục. Khi nói đến danh xưng “linh mục” là nói đến một thánh chức, một bậc sống được tuyển chọn để phục vụ, nhưng khi gọi linh mục là ‘cha” Giáo Hội muốn nhắc người tín hữu về vai trò đại diện cho Chúa Kitô trước hết của các Thánh Tông Đồ và nay là hàng giáo sĩ thừa tác (ministerial clergy) trong Giáo Hội như Chúa Giêsu đã nói rõ như sau :
“ Ai nghe anh em là nghe Thầy; ai khước từ anh em là khước từ Thầy;
mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy” Lc 10: 16)
Từ Đức Thánh Cha xuống đến hàng linh mục đều nhất thiết nhân danh Chúa Kitô (in persona Christi) mà thi hành mọi thừa tác vụ (ministerium) thánh để phục vụ cho lợi ích thiêng liêng của dân Chúa như những “Mục tử được giao phó nhiệm vụ chăn dắt đoàn chiên thay mặt cho Con Chúa”. Như vậy, gọi Đức Thánh Cha, Đức Cha, các Cha là vì kính trọng Chúa là CHA mà các ngài là những đại diện bí tích chứ không vì cá nhân các vị này.. Danh xưng này cũng đồng thời nói lên mối dây thiêng liêng thắm thiết giữa người thay mặt, nhân danh Chúa Kitô để giảng dạy và người nhận sự dạy dỗ, săn sóc này vì đức tin. Chính trong giây thân tình thiêng liêng này mà Thánh Phaolô đã tự ví mình như “người cha” để “tái sinh con thiêng liêng” cho Chúa Kitô.
Dầu vậy Giáo Hội không bắt buộc ai phải gọi Giám mục, Linh mục là Cha mà chỉ cho phép dùng danh xưng này để nói lên mối tình thiêng liêng thắm thiết giữa các thừa tác viên đã được thánh hiến và dân Chúa được phục vụ mà thôi. Ai không muốn hiểu và thực hành điều này thì đó là quyền tự do của họ, nhưng nếu nói đó là điều phi lý thì quả là hồ đồ, không có căn bản giáo lý nào. Người giáo dân Việtnam gọi cha và tự động xưng con là vì văn hóa và ngôn ngữ Việtnam không có lối nói I/you, Je/Tu …như các ngôn ngữ Tây phương mặc dù người ta vẫn gọi linh mục là “cha”. Trong một viết trước đây, tôi đã nói : khi được giáo dân gọi mình là cha, thì linh mục được nhắc nhở về sứ vụ thiêng liêng mà mình được lãnh nhận qua thánh chức chứ không phải một thứ đặc ân, ưu quyền nào khác. Vì thế, về phần linh mục, không ai lại “lố bịch” tự xưng cha với giáo dân và gọi người khác bằng con, trừ với mấy em nhỏ thiếu nhi. Nhưng danh xưng ‘cha’ mà Giáo Hội cho phép gọi linh mục, giám mục là một truyền thống có căn bản Kinh Thánh trong Giáo Hội nên mọi ý kiến chống đối danh xưng này đều không có nền tảng vững chắc nào.Hơn thế nữa, còn cho thấy thái độ khinh thường, nếu không muốn nói là tị hiềm của một số người đối với hàng giáo sĩ Công giáo. Điều này thể hiện rõ qua chứng lý mà họ viện dẫn để đòi thay đổi: họ nêu vấn đề một số giáo sĩ “bất xứng”, “hách dịch” trong cách cư xử với giáo dân, chuyện tai tiếng của một số linh mục mắc tội “lạm dụng tính dục trẻ em”v.v
Chuyện “xứng “ hay “bất xứng’ của một số nhỏ, nếu có, đâu phải là lý do bác bỏ, bôi nhọ cả tập thể? Vả lại, họ là ai mà muốn “ném đá” lên án người khác là “bất xứng, không đạo đức” ?
Trong một xã hội mà công lý thuộc về kẻ có nhiều tiền,có thế lực và sợ áp lực quần chúng như xã hội chúng ta đang sống thì mọi phán đoán của xã hội về đạo đức, luân lý, tác phong hành động .. có luôn công bằng, khách quan và đáng quan tâm hay không ?
IV- Từ ngữ “con chiên” “chủ chiên
Có người cũng đòi thay đổi các từ ngữ này vì xét ra không hợp với địa vị và tương quan giữa giáo dân và linh mục. Nó rõ hơn, họ không muốn nhận mình là “con chiên” đặt dưới sự dẫn dắt của hàng giáo sĩ ví như các “chủ chăn”. Tương quan này xem ra bất bình đẳng đối với họ (...) Chính vì quan niệm như vậy, nên một số người đã không hài lòng với những từ ngữ quen dùng trong Giáo Hội ở khắp nơi chứ không riêng ở Việtnam như “con chiên” “đàn chiên” “chủ chăn”. Chỉ có điều lạ là các tín hữu Tây phương và cả Á, Phi châu chưa hề có ai lên tiếng phản đối hay đòi thay đổi các từ ngữ brebis, berger, pasteur, sheep, flock, shepherd… quen dùng trong ngôn ngữ của họ mà nay chỉ thấy có vài người Công giáo Việtnam “tiến bộ” hơn đòi mà thôi!
Đòi hỏi này thực không hợp lý chút nào vì nó cho thấy các tác giả kia không biết gì về ngôn từ mà chính Chúa Giêsu đã dùng trong Tin Mừng như sau :
Ta chính là Mục Tử nhân lành.
Ta biết chiên của Ta
Và chiên của Ta biết ta (Jn 10:14)
Chúa cũng trao cho Phêrô nhiệm vụ sau trước khi Người về trời:
Hãy chăm sóc chiên con của Thầy” (Jn 21:15)
Hãy chăn dắt chiên của Thầy" ( Jn 21:16)
Kinh Thánh Cựu Ước cũng có những lời sau đây :
“Hãy nhìn nhận CHÚA là Thượng Đế
Chính Người dựng nên ta, ta thuộc về Người
Ta là dân Người, là đoàn chiên Người dẫn dắt” ( Tv 100 : 3)
Trong Kinh Tiền Tụng ( preface) Lể kính các Thánh Tông Đồ, Giáo Hội đọc :
Chúa là Mục Tử hằng hữu, không bỏ rơi đoàn chiên Chúa, nhưng nhờ các Thánh Tông Đồ, Chúa luôn luôn che chở, giữ gìn, để đoàn chiên được hướng dẫn nhờ các vị lãnh đạo Chúa đã đặt làm mục tử coi sóc đoàn chiên thay thế Con Chúa..”
Vậy Xin hỏi những ai “dị ứng” về từ ngữ “chiên” và “đoàn chiên” nói trong những câu Kinh Thánh và lời cầu nguyện trên đây: con chiên hay đoàn chiên nói trên là những con vật đang ăn cỏ và kêu be be ngoài đồng hay đúng ra là hình dung từ (metaphors) chỉ Dân Thiên Chúa cả trong thời Cựu lẩn Tân Ước ?
Và người Mục Tử nói trên có phải là người chăn chiên, chăn cừu ngoài đồng cỏ hay cũng là hình dung từ chỉ các giáo sĩ như Giáo hoàng, Giám mục và Linh mục trong trong nhiệm vụ coi sóc dân Chúa ngày nay trong Giáo Hội? Ngôn từ và hình ảnh này đã được chính Chúa Giêsu dùng trước đây để nói lên tương quan gần gũi thân tình giữa Chúa và dân được cứu chuộc nhờ máu của Người đổ ra trên thập giá. Ngôn từ và hình ảnh ấy được Chúa trao lại cho các Tông Đồ và những người kế tục Sứ Vụ rao giảng Tin Mừng và cử hành các bí tích cứu độ. Vậy tại sao lại đòi thay đổi ?
Đòi hỏi như vậy có phù hợp với Lời Chúa trong Kinh Thánh và áp dụng mục vụ của Giáo Hội ngày nay không? .
Tóm lại, khi đòi hỏi hay phê bình Giáo Hội về vấn đề gì thì thiết yếu phải có thành tâm thiện chí và kiến thức phải dựa trên những dữ kiện căn bản hợp lý. Không thể dựa vào cảm quan hay thiên kiến của mình để nói vung vít thiếu nền tảng giáo lý, thần học, Kinh Thánh và Truyền thống là những tiêu chuẩn phải dựa khi suy tư về Giáo Hội
Không ai ngăn cấm giáo dân góp ý xây dựng Giáo Hội, nhưng góp y xây dựng khác với phê bình chỉ trích vô căn cớ, chỉ gây hoang mang hiểu lầm và gương xấu.
Không nên vì cung cách cư xử hay đời sống của một thiểu số giáo sĩ nào đó mà có thành kiến chung với tập thể giáo sĩ, tu sĩ cũng như với Giáo Hội nói chung.
Ước mong những điều giải thích trên đây của tôi giúp quí độc giả bốn phương hiểu rõ vấn đề khúc mắc đang được đặt ra trên báo chí, truyền thông ở vài nơi trong và ngoài Việtnam..
LM. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn (Houston, Texas)

-0-0-0-0-0-0-0-0-0-0-0-0-0-0-0-0-0-0-0-0-0-0-0-0-0-0-0


DANH XƯNG CHA CON - Theo Ánh mắt Tâm Linh

Theo GS John of God Khổng Nhuận

Cách đây hơn một năm, trong giới truyền thông đã nổ ra một cuộc bút chiến về chủ đề Danh xưng CHA - CON trong giáo hội Công giáo. Mới đây, linh mục Ngô Tôn Huấn đã viết lại chủ đề này trên bán nguyệt san điện tử chungnhanduckito số 23, Chủ nhật 26.06.2005. Tôi cũng xin góp một vài ý kiến về vấn đề rất tế nhị này.
Theo Ánh Mắt Tâm Linh, dù bất cứ danh xưng nào đi nữa: cha con, anh em, thày em .. cũng không quan trọng. Nhưng tôi cảm nhận rằng đây chính là dịp rất tốt để mỗi người giáo dân chúng ta nhìn vào con người đích thực của mình.
Chúng tôi đã trình bày tương đối gọn gàng và rõ ràng qua tiểu mục Ánh mắt Tâm linh trong các trang Web: chungnhaduckito.net, simonhoadalat.com, tinvui.org, dongcong.net, ngonnennho.co.nr, ngonnennho.blogspot.com, thanhlinh.net, tiengnoigiaodan.net, tuần báo điện tử Maranatha ….Đặc biệt là trong bài Đức Giêsu Kitô và Người Kitô hữu. Nơi đây tôi chỉ nhắc sơ lại ý chính.
Theo tổ chức hữu hình trong Giáo hội thì chúng ta là những giáo dân, nhưng bản chất của chúng ta là người Kitô hữu. Có thể hiểu giáo dân là áo khoác, là nhãn hiệu, là con người giả, nay còn mai mất - mong manh như hoa dại ngoài đồng, một cơn thoảng cũng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích. Còn Kitô hữu mới là con người đích thực. Con người này cao quý vô cùng với những đặc điểm tuyệt vời. Chúng ta có thể tóm gọn vài hình ảnh sau đây:
1. Chúng ta là con yêu dấu của Cha

Chúng ta cũng là con yêu dấu của Cha dựa vào sự xuất phát của mình Chúng ta được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa. (Ga 1:13).
Ngài như một người Cha, biết rất rõ về đứa con thân yêu của mình: Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân." Gr 1:5). Không những Ngài biết giây phút xuất hiện của tôi mà Ngài còn thánh hoá tôi và trao cho tôi một sứ mạng rõ ràng: làm ngôn sứ của Ngài cho muôn dân.
Thánh Gioan còn khẳng định: Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa - mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa1Ga 3:1). Thánh Gioan đã xác quyết chúng ta thực sự là con Thiên Chúa; thế mà trước đây chúng tôi cứ tưởng là tôi tớ hạng bét ngay trong nhà Cha của mình. Thật là mọt sự hiểu lầm chết người!!!
2. Chúng ta là đàn em của Anh cả Giêsu
Chính Đức Giêsu đã xác nhậnThầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em (Ga 20:17).

Một thời gian sau, Thánh Phao-lô đã khám phá vai trò trưởng tử của Anh Cả Giêsu và tất cả đều cùng phát xuất từ một Chúa Cha qua lời chia sẻ đầy chân tình: Thật vậy, Đấng thánh hoá là Đức Giê-su, và những ai được thánh hoá đều do một nguồn gốc. Vì thế, Người đã không hổ thẹn gọi họ là các em, khi nói: Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho các em tất cả được hay, và trong đại hội Dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương. Bởi thế, Người đã phải nên giống các em mình về mọi phương diện (Dt 2:11,12,17) - Dịch giả An-sơn Vị đã dùng từ các em thay cho từ anh em cho hợp với tâm tình Việt nam và mạch văn: Trưởng tử - Anh Cả đối với các em.
Thánh Phao-lô còn khám phá ra một tư tưởng tuyệt vời: Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc (Rm 8:28-29).
3. Chúng ta tràn đầy Thánh Thần
Vì quá thương yêu chúng ta, Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta Rm 5:5)
Mục đích cho chúng ta được sống dồi dào, viên mãn, mạnh mẽ: Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ (2Tm 1:7).
Khi chịu phép Rửa: Chúng ta đều đã chịu phép Rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất (1Cr 12:13).
Tóm lại, con người tâm linh của chúng ta được sinh ra bởi chính Thiên Chúa, giống hình ảnh của Ngài, là đàn em của Anh cả Giêsu, tràn đầy Thần Khí Thiên Chúa. Nhờ đó chúng ta sống kết hợp nên một với Chúa một các dễ dàng hơn. Tất cả những điều kỳ diệu trên đây đều phát xuất từ tình yêu bao la của Thiên Chúa

Danh xưng cha-con không có nền tảng Kinh Thánh
Bây giờ chúng ta có thể rút ra kết luận thú vị:
Theo Ánh Mắt Tâm Linh, vấn đề danh xưng cha - con thực ra chỉ thuần tuý thuộc lãnh vực văn hoá, nó chẳng dính dáng gì tới tâm linh. Chẳng có nền tảng Kinh Thánh một chút nào cả
Còn nếu muốn dựa trên nền tảng Kinh Thánh, Theo Ánh Mắt Tâm Linh, chúng ta cùng nhau xem lại lời Kinh Thánh mà thánh Phao-lô đã quả quyết:
Vậy không còn phải phân biệtHy-lạp hay Do-thái cắt bì hay không cắt bì, man di, mọi rợ, nô lệ, tự do, nhưng chỉ có Đức Ki-tô là tất cả và ở trong mọi người. (Cl 3:11)
Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự dochúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất (1Cr 12:13)
Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Ki-tô, đều mặc lấy Đức Ki-tô. Không còn chuyện phân biệt Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự dođàn ông hay đàn bànhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Ki-tô. (Gl 3:27-28).
Vì không còn phân biệt chủng tộc, nam nữ thì danh xưng chủ-tớ, thày-trò, cha-con chỉ có giá trị theo văn hoá nhân loại của từng vùng, từng quốc gia, từng thời đại.
Chúng ta chắc hẳn vẫn còn nhớ câu chuyện nghe rất lạ tai trong Tin Mừng theo thánh Mác-cô 3:31-35.
Mẹ và anh em Đức Giê-su đến, đứng ở ngoài, cho gọi Người ra. Lúc ấy, đám đông đang ngồi chung quanh Người.
Có kẻ nói với Người rằng: "Thưa Thầy, có mẹ và anh em chị em Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy! "
Nhưng Người đáp lại: Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi? "
34 Rồi Người rảo mắt nhìn những kẻ ngồi chung quanh và nói: Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi.35 Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em chị em tôi, là mẹ tôi."
Lúc đó ai đang ngồi chung quanh? Tất nhiên là các môn đệ và còn nhiều người khác đang lắng nghe Đức Giêsu Loan Báo Tin Mừng.
Áp dụng Lời Kinh Thánh trên vào đời sống của mình, tôi bây giờ cũng âm thầm từ hào mình là mẹ của Đức Kitô - dù tôi là một người đán ông, đơn giản chỉ vì bây giờ tôi đang sống Lời Chúa và tiếp tục sinh Đức Kitô trong lòng anh em khác, khi họ nhận ra sự hiện diện của Đức Kitô sống động trong lòng của họ, qua những chia sẻ rất chân tình của mình.
Từ đó suy ra chủ-tớ, thầy-trò, cha-con, anh-em, chị-em … chỉ là cách nói thế gian, giống như thánh Phalô đã từng chia sẻ: Trong Đức Ki-tô Giê-su, nhờ Tin Mừng, chính tôi đã sinh ra anh em. 1Cr 4:15). Gửi anh Ti-mô-thê, người con tôi đã sinh ra trong đức tin. (1Tm 1:2).
Có thực là Thánh Phao-lô sinh ra các tín hữu không? Chắc chắn không! vì cũng chính thánh Phao-lô đã từng tuyên bố: Tôi trồng, anh A-pô-lô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên.7 Vì thế, kẻ trồng hay người tưới chẳng là gì cả, nhưng Thiên Chúa, Đấng làm cho lớn lên, mới đáng kể. (1Cr 3:6-7).
Thánh Phê-rô giải thích rõ hơn: Vì anh em đã được tái sinh, không phải do hạt giống mục nát mà do hạt giống bất diệt nhờ Lời Thiên Chúa hằng sống và tồn tại mải mãi… Đ chính là Lời đã được loan báo cho anh em như một Tin Mừng” 1 P 1: 23-25). Ý tưởng này xác định chúng ta được sinh lại do Lời Chúa chứ không phải bởi người Cha nào cả dù đó là Phê-rô hay Phao-lô hay A-pô-lô…
Như thế chúng ta thấy rõ rằng, trong tâm tình cảm riêng tư đầm ấm, Phao-lô và Ti-mô-thê tự nhận là cha-con với nhau. Nếu Phao lô trẻ hơn nữa thì biết đâu họ lại tự nhận là huynh-đệ với nhau.
Thánh Phao-lô đã ý thức rất mạnh mẽ: Kẻ trồng hay người tưới chẳng là gì cả - Chẳng là gì thì lấy tư cách chi để ngang nhiên tự nhận mình là cha. Ngay cả Đức Kitô, đi mòn gót miền thập tỉnh, công bố Lời Hằng Sống khan cả cổ suốt 3 năm trời, thế mà Ngài chỉ tuyên bố một câu nghe chẳng có vẻ gì uy quyền của người Cha: Ai có tai thì nghe!
Rồi cuối cùng, chính Đức Giêsu phá luôn bức-tường-thầy-trò để thiết lập một tương quan mới: bạn-hữu-thân-tình: Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.( Ga 15:15).
Gương Thầy chí thánh rành rành ra đó, các limh mục - tự xưng là Kitô khác có tự nguyện phá bức-tường-cha-con để xây dựng tương quan thân tình vui vẻ hoà đồng với mọi người bằng cách vui lòng chấp nhận cho giáo dân xưng hô với một từ nào đó mà người ta cảm thấy thoải mái nhất như linh mục, thầy, ngài, anh…tuỳ hoàn cảnh mà trong lòng vẫn còn quý mến mình. Tất nhiên không phải là cá mè một lứa.
Đọc tới đây, chắc chắn chúng ta đã dễ dàng nhận ra: vấn đề danh xưng cha-con không hề có một chút nền tảng Kinh Thánh nào cả.
Tôi xin kể một mẩu chuyện nhỏ. Cha xứ tôi với về nhận nhiệm sở vào ngày 08.05.2005. Khoảng một tháng sau, ngài mời tôi vào bàn tính chuyện thực hiện một tờ thông tin Giáo xứ hàng tháng. Bàn tới bàn lui xong xuôi.
Tôi kết luận: Như vậy là khởi đần chỉ có 2 cha con mình làm.
Ngài gật đầu mỉm cười: Đúng vậy, khởi đầu chỉ cần 2 anh em mình thực hiện, sau đó sẽ kêu gọi một vài người cộng tác nữa
Các linh mục khác nghĩ sao trước lời nói chân tình của một vị quản xứ này?
Đó là những tâm tình chia sẻ xin chân thành gởi tới quý độc giả với một ước nguyện vĩ đại: đó là tất cả những người giáo dân chúng ta đều khám phá ra con người đích thực của mình. Còn chuyện xưng hô cha-con nên để dành cho các linh mục ý thức đi bước trước như ngài quản xứ của chúng tôi. (Xin gởi bài này cho các trang Web Công Giáo và riêng cho linh mục quản xứ Bình Thới)
Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ VN
  • Emailto:khongnhuan@gmail.com
  • DANH XƯNG CHA CON - Theo Ánh mắt Tâm Linh

    John of God Khổng Nhuận


    Cách đây hơn một năm, trong giới truyền thông đã nổ ra một cuộc bút chiến về chủ đề Danh xưng CHA - CON trong giáo hội Công giáo. Tôi cũng xin góp một vài ý về vấn đề rất tế nhị này.

    Theo Ánh Mắt Tâm Linh, dù bất cứ danh xưng nào đi nữa: cha con, anh em, thày em .. cũng không quan trọng. Nhưng tôi cảm nhận rằng đây chính là dịp rất tốt để mỗi người giáo dân chúng ta nhìn vào con người đích thực của mình.

    Chúng tôi đã trình bày tương đối gọn gàng và rõ ràng qua tiểu mục Ánh mắt Tâm linh trong các trang Web: chungnhanduckito.net, simonhoadalat.com, tinvui.org, dongcong.net, ngonnennho.co.nr, ngonnennho.blogspot.com, thanhlinh.net, tiengnoigiaodan.net, tuần báo điện tử Maranatha ….Đặc biệt là trong bài Đức Giêsu Kitô và Người Kitô hữu. Nơi đây tôi chỉ nhắc sơ lại ý chính.

    Theo tổ chức hữu hình trong Giáo hội thì chúng ta là những giáo dân, nhưng bản chất của chúng ta là người Kitô hữu. Có thể hiểu giáo dân là áo khoác, là nhãn hiệu, là con người giả, nay còn mai mất - mong manh như hoa dại ngoài đồng, một cơn thoảng cũng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích. Còn Kitô hữu mới là con người đích thực. Con người này cao quý vô cùng với những đặc điểm tuyệt vời. Chúng ta có thể tóm gọn vài hình ảnh sau đây:


    1.- Chúng ta là con yêu dấu của Cha.

    Chúng ta cũng là con yêu dấu của Cha dựa vào sự xuất phát của mình Chúng ta được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa. (Ga 1:13).

    Ngài như một người Cha, biết rất rõ về đứa con thân yêu của mình: Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân." Gr 1:5). Không những Ngài biết giây phút xuất hiện của tôi mà Ngài còn thánh hoá tôi và trao cho tôi một sứ mạng rõ ràng: làm ngôn sứ của Ngài cho muôn dân.

    Thánh Gioan còn khẳng định: Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa - mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa (1Ga 3:1). Thánh Gioan đã xác quyết chúng ta thực sự là con Thiên Chúa; thế mà trước đây chúng tôi cứ tưởng là tôi tớ hạng bét ngay trong nhà Cha của mình. Thật là mọt sự hiểu lầm chết người!!!

    2.- Chúng ta là đàn em của Anh cả Giêsu

    Chính Đức Giêsu đã xác nhận Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em (Ga 20:17).

    Một thời gian sau, Thánh Phao-lô đã khám phá vai trò trưởng tử của Anh Cả Giêsu và tất cả đều cùng phát xuất từ một Chúa Cha qua lời chia sẻ đầy chân tình: Thật vậy, Đấng thánh hoá là Đức Giê-su, và những ai được thánh hoá đều do một nguồn gốc. Vì thế, Người đã không hổ thẹn gọi họ là các em, khi nói: Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho các em tất cả được hay, và trong đại hội Dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương. Bởi thế, Người đã phải nên giống các em mình về mọi phương diện (Dt 2:11,12,17) - Dịch giả An-sơn Vị đã dùng từ các em thay cho từ anh em cho hợp với tâm tình Việt nam và mạch văn: Trưởng tử - Anh Cả đối với các em.

    Thánh Phao-lô còn khám phá ra một tư tưởng tuyệt vời: Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc (Rm 8:28-29). Đồng hình đồng dạng với Đức Kitô là điều Chúa Cha đã tiền định sẵn cho chúng ta. Thế mà chúng ta vô tình quên lãng dù chúng ta chắc chắn đã nghe cả chục lần, cả trăm lần… Rồi chúng ta lại tự xếp loại mình là phó thường dân, và tôn vinh những người có chức thánh làm đại diện Đức Kitô trong khi chính bản thân mình đồng hình đồng dạng với Đức Kitô.

    3.- Chúng ta tràn đầy Thánh Thần

    Vì quá thương yêu chúng ta, Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta (Rm 5:5)

    Mục đích cho chúng ta được sống dồi dào, viên mãn, mạnh mẽ: Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương,và biết tự chủ (2Tm 1:7).

    Khi chịu phép Rửa: Chúng ta đều đã chịu phép Rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất (1Cr 12:13).

    Tóm lại, con người tâm linh của chúng ta được sinh ra bởi chính Thiên Chúa, giống hình ảnh của Ngài, là đàn em của Anh cả Giêsu, tràn đầy Thần Khí Thiên Chúa. Tất cả chúng ta đều là ngành, là nhánh của một thân nho Đức Kitô. Tất cả chúng ta lành anh chị em với nhau con một Cha trên trời.

    Danh xưng cha-con không có nền tảng Kinh Thánh

    Bây giờ chúng ta có thể rút ra kết luận thú vị:

    Theo Ánh Mắt Tâm Linh, vấn đề danh xưng cha-con thực ra chỉ thuần tuý thuộc lãnh vực văn hoá, nó chẳng dính dáng gì tới tâm linh. Chẳng có nền tảng Kinh Thánh một chút nào cả

    Còn nếu muốn dựa trên nền tảng Kinh Thánh để tìm hiểu xem vấn đề cha-con giữ vai trò gì, chúng ta cùng nhau xem lại lời Kinh Thánh mà thánh Phao-lô đã quả quyết:

    Vậy không còn phải phân biệt Hy-lạp hay Do-thái cắt bì hay không cắt bì, man di, mọi rợ, nô lệ, tự do, nhưng chỉ có Đức Ki-tô là tất cả và ở trong mọi người. (Cl 3:11)

    Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất (1Cr 12:13)

    Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Ki-tô, đều mặc lấy Đức Ki-tô. Không còn chuyện phân biệt Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do đàn ông hay đàn bà nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Ki-tô. (Gl 3:27-28).

    Vì không còn phân biệt chủng tộc, nam nữ, nên danh xưng chủ-tớ, thày-trò, cha-con chỉ có giá trị theo văn hoá nhân loại của từng vùng, từng quốc gia, từng thời đại.

    Chúng ta chắc hẳn vẫn còn nhớ câu chuyện nghe rất lạ tai trong Tin Mừng theo thánh Mác-cô 3:31-35.

    Mẹ và anh em Đức Giê-su đến, đứng ở ngoài, cho gọi Người ra. Lúc ấy, đám đông đang ngồi chung quanh Người.

    Có kẻ nói với Người rằng: "Thưa Thầy, có mẹ và anh em chị em Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy! "

    Nhưng Người đáp lại: Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi? "

    34 Rồi Người rảo mắt nhìn những kẻ ngồi chung quanh và nói: Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi.35 Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em chị em tôi, là mẹ tôi."

    Lúc đó ai đang ngồi chung quanh? Tất nhiên là các môn đệ và còn nhiều người khác đang lắng nghe Đức Giêsu Loan Báo Tin Mừng.

    Áp dụng Lời Kinh Thánh trên vào đời sống của mình, tôi bây giờ cũng âm thầm từ hào mình là mẹ của Đức Kitô - dù tôi là một người đàn ông, đơn giản chỉ vì bây giờ tôi đang sống Lời Chúa và tiếp tục sinh Đức Kitô trong lòng anh em khác, khi họ nhận ra sự hiện diện của Đức Kitô sống động trong lòng của họ, qua những chia sẻ rất chân tình của mình.

    Từ đó suy ra chủ-tớ, thầy-trò, cha-con, anh-em, chị-em … chỉ là cách nói thế gian,giống như thánh Phalô đã từng chia sẻ: Trong Đức Ki-tô Giê-su, nhờ Tin Mừng, chính tôi đã sinh ra anh em.(1Cr 4:15). Gửi anh Ti-mô-thê, người con tôi đã sinh ra trong đức tin. (1Tm 1:2).

    Có thực là Thánh Phao-lô sinh ra các tín hữu không? Chắc chắn không! vì cũng chính thánh Phao-lô đã từng tuyên bố: Tôi trồng, anh A-pô-lô tưới,nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên.7 Vì thế, kẻ trồng hay người tưới chẳng là gì cả, nhưng Thiên Chúa, Đấng làm cho lớn lên, mới đáng kể. (1Cr 3:6-7).

    Thánh Phê-rô giải thích rõ hơn: Vì anh em đã được tái sinh, không phải do hạt giống mục nát mà do hạt giống bất diệt nhờ Lời Thiên Chúa hằng sống và tồn tại mải mãi… Đó chính là Lời đã được loan báo cho anh em như một Tin Mừng" (1 P 1: 23-25). Ý tưởng này xác định chúng ta được sinh lại do Lời Chúa chứ không phải bởi người Cha nào cả dù đó là Phê-rô hay Phao-lô hay A-pô-lô…

    Như thế chúng ta thấy rõ rằng, trong tâm tình cảm riêng tư đầm ấm, Phao-lô và Ti-mô-thê tự nhận là cha-con với nhau. Nếu Phao lô trẻ hơn nữa thì biết đâu họ lại tự nhận là huynh-đệ với nhau.

    Thánh Phao-lô đã ý thức rất mạnh mẽ: Kẻ trồng hay người tưới chẳng là gì cả - Chẳng là gì thì lấy tư cách chi để ngang nhiên tự nhận mình là cha. Ngay cả Đức Kitô, đi mòn gót miền thập tỉnh, công bố Lời Hằng Sống khan cả cổ suốt 3 năm trời, thế mà Ngài chỉ tuyên bố một câu nghe chẳng có vẻ gì uy quyền của người Cha: Ai có tai thì nghe!

    Rồi cuối cùng, chính Đức Giêsu phá luôn bức-tường-thầy-trò để thiết lập một tương quan mới: bạn-hữu-thân-tình: Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu,vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.( Ga 15:15).

    Gương Thầy chí thánh rành rành ra đó, các limh mục - tự xưng là Kitô khác - có tự nguyện phá bức-tường-cha-con để xây dựng tương quan thân tình vui vẻ hoà đồng với mọi người bằng cách vui lòng chấp nhận cho giáo dân xưng hô với một từ nào đó mà người ta cảm thấy thoải mái nhất như linh mục, thầy, ngài, anh…tuỳ hoàn cảnh mà trong lòng vẫn còn quý mến mình. Tất nhiên không phải là cá mè một lứa.

    Đọc tới đây, chắc chắn chúng ta đã dễ dàng nhận ra: vấn đề danh xưng cha-con không hề có một chút nền tảng Kinh Thánh nào cả.

    Đó là những tâm tình chia sẻ xin chân thành gởi tới quý độc giả với một ước nguyện vĩ đại: đó là tất cả những người giáo dân chúng ta đều khám phá ra con người đích thực của mình. Còn chuyện xưng hô cha-con chỉ thuần tuý thuộc lãnh vực văn hóa. Chúng tôi nhận thấy tác giả Mỹ Duyệt đã viết một loạt bài trình bày về danh xưng cha-con có tính thuyết phục rất cao. Chỉ vài cái click mouse, quý vị đã có trong tay tất cả bài có liên quan tới Danh xưng cha-con trong Giáo hội.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ VN
  • Emailto:khongnhuan@gmail.com
  • Friday, June 17, 2005

    ĐỜI SAU Theo ánh mắt tâm linh

    Khổng Nhuận

    Đời sau gắn liền với sự chết. Giờ chết điểm, con người sẽ phải giã từ người thân, bỏ dở bao nhiêu mộng đẹp, vĩnh biệt tất cả..toàn là hình ảnh khiến cho lòng đau đớn, cho tim tan nát, cho trí cuồng điên. Đời sau như vùng đất cấm chẳng ai muốn bước vào, như khu rừng hoang chẳng ai thèm quan tâm.
    Đời sau mở ra ba hướng đi: Thiên Đàng, luyện ngục, hoả ngục.
    Trong bài chia sẻ này, chúng ta chỉ tập trung vào một hướng đi hấp dẫn: Thiên Đàng.
    I. Quan niệm nhân loại
    1. Nơi chốn
    Tuy không ai xác định rõ vị trí nó nằm ở đâu, nhưng người ta thường hiểu Thiên Đàng ỏ trên thượng giới. Sách Công vụ kể lại chuyện Đức Giêsu qua các tầng mây bay về trời đã khiến người dễ tưởng tượng Thiên Đàng ở trên ngàn tầng trời cao vút…
    2. Thời gian
    Người ta chỉ có thể hưởng Thiên Đàng sau khi chết.
    Có một chuyện vui kể rằng: Một hôm, cha xứ tụ họp các ông bà trong hội đồng giáo xứ và kể về Thiên Đàng vui vẻ tưng bừng, rồi lớn tiếng hỏi:
    Ông bà nào muốn lên Thiên Đàng thì đứng sang bên tay phải của tôi.
    Mọi người líu ríu bước qua. Còn một ông đứng như trời trồng, mặt tỏ vẻ đăm chiêu.
    Cha xứ đầy ngạc nhiên: Ông không muốn lên Thiên Đàng sao?
    Ông ta ấp úng: Chắc chắn là con muốn lên trời sau khi con chết chứ, nhưng con cứ tưởng phải đi tới đó ngay bây giờ!! (Ông ta tưởng phải chết cả đám ngay lúc đó, khiếp quá! Bước đi không nổi).
    3. Điều kiện vào Thiên Đàng
    Phải hoàn toàn sạch tội mới mong bước vào Thiên Đàng.
    Lại một chuyện vui nổi tiếng. Có một cầu thang cao chót vót vươn tới cửa Thiên Đàng. Mỗi người cầm viên phấn ghi những tội của mình trên từng bậc thang. Cha xứ và ông chánh trương cùng chết một lúc. Cha xứ hăm hở lên trước, chẳng mấy chốc ngài đã vội xuống.
    Ông chánh trương ngạc nhiên hỏi: Cha còn xuống đây làm gì?
    Cha xứ e thẹn trả lời: Tôi phải lấy thêm cục phấn nữa và e rằng cả một hộp phấn cũng chưa chắc đã đủ!!!
    Ông chánh trương há hốc mồm: Giêsu Ma!! Lậy Chúa tôi! Với đầu óc ngu muội của con, con cứ tưởng cha có chức thánh thì cùng lắm, cha chỉ mất nửa viên phấn là cha đã bay vút lên tới cửa Thiên Đàng rồi chứ!!!
    Một anh giáo dân nghĩ rằng: Khi giờ chết điểm, chắc chắn anh ta sẽ phải lê lết tới trình diện trước toà uy nghiêm của thẩm phán chí công. Anh ta hy vọng Chúa giàu lòng thương xót chẳng nỡ quẳng anh xuống hoả ngục đầy lửa sinh diêm. Nhưng còn Thiên Đàng thì sao? Không một chút hy vọng nào khi nhìn thấy tấm linh hồn nhớp nhúa đầy vết nhơ tội lỗi của mình - dù toàn là tội nhẹ - và anh ta nắm chắc rằng mình bị giam cầm nơi luyện ngục lâu lắm! rất lâu!! Các thánh mỗi ngày còn lỗi 7 lần cơ mà, huống chi là anh ta chỉ là một người phàm tục, thấp hèn.
    Anh ta còn nhớ như in lời cảnh cáo của Đức Giêsu: Anh sẽ không ra khỏi đó trước khi trả hết đồng kẽm cuối cùng. (Lc 12:59). Tất nhiên đâu chỉ là những đồng xu tính bằng tiền gian lận mà còn hàng ngàn đồng xu khác tính bằng những bê bối, lỗi lầm, những trả thù ác ý, không làm tròn bổn phận với Chúa với người khác, với chính mình. Lâu lâu anh phải đi xưng tôi để giặt lại tấm áo cháo lòng linh hồn của mình. Nhưng rồi vẫn chứng nào tật ấy, anh tiếp tục phạm tội như một tay nghiền ma túy trong tâm tưởng Vì Chúa đã biết từ ngàn xưa rằng thân con bởi tro bụi và được cưu mang trong tội lỗi.
    Anh ta đã tham gia vào các đoàn thể thiếu nhi, giúp lễ. Lớn lên anh hát trong ca đoàn, làm giáo lý viên, thậm chí là thành viên hội đồng giáo xứ. Nhìn bề ngoài anh ta có vẻ rất nhiệt tình, hăng say, đạo đức, nhưng thực chất con người nội tâm của anh vẫn không trở nên vững mạnh nổi. Không tin bạn thử hỏi anh ta mà xem:
    Khi chết đi, anh có tin chắc là mình lập tức được vào Thiên Đàng không?
    Chắc chắc anh ta sẽ khựng lại một chút, vội lướt qua đống tội của mình nhanh như ánh chớp rồi buồn bã trả lời:
    Điều ấy tuỳ thuộc vào lòng nhân lành của Chúa.
    Thật tội nghiệp!! công khó theo Chúa từ tấm bé, hy sinh thời gian, tiền bạc, sức lực, lăn xả vào làm việc cho công trình của Chúa bao nhiêu năm trời… có mỗi một chuyện vào Thiên Đàng thôi mà không nắm chắc trong tay thì thật là phí công phí sức biết bao!!
    Thế thì làm cách nào để nắm vững hoàn toàn mình được vào Thiên Đàng ngay khi giờ chết điểm? Điều kiện quan trọng đầu tiên là phải chuyển từ lối nhìn nhân loại sang lối nhìn theo ánh mắt tâm linh.
    II. Theo ánh mắt tâm linh
    Thiên Đàng theo ánh mắt tâm linh chính là nước Thiên Chúa.
    1. Đặc điểm căn bản của nước Thiên Chúa
    Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần. (Rm 14:17).
    Bình an và hoan lạc là niềm hạnh phúc mà ai cũng mơ ước kiếm tìm suốt cả đời nhưng không làm cách nào nắm giữ được. Họ cảm thấy hạnh phúc như bong bóng xà bông rực rỡ muôn màu huyền ảo. Nếu ngắm nhìn thì đẹp tuyệt vời, nhưng vừa đụng vào, nó lập tức vỡ tan, chỉ còn để lại một chút bọt vô vị, nhạt nhẽo. Tại sao vậy? Vì họ lầm tưởng hạnh phúc được xây dựng trên những gì thuộc về thế gian này như tiền tài, danh vọng, đam mê … mà những lạc thú chốn hồng trần này vốn nó luôn luôn biến đổi, nay còn, mai mất. Kể cả bản thân con người, nay sum vầy vui sướng, mai vĩnh biệt xót xa… Hạnh phúc trần gian quả là:
    Phù hoa nối tiếp phù hoa
    Ở đời hết thảy chỉ là phù hoa. (Gs 1:1)
    Vậy bình an va hoan lạc đích thực ở đâu?
    Chắc chắn không ở những gì mang hình tướng nơi trần gian nay, nó cũng không ở nơi bồng lai tiên cảnh hão huyền, xa xôi. Nhưng nó chính là “Bình an và Hoan lạc TRONG THÁNH THẦN”.
    Ai đã một lần thử sống trong Thánh Thần, lập tức sẽ cảm nghiệm được thế nào là hạnh phúc thực sự. Hạnh phúc ở đây không đổi thay như hạnh phúc trần gian lúc hứng khởi, khoái chí như bồng bềnh trên mây trời, lúc đau khổ, tủi nhục như chìm dưới vực sâu; nhưng hạnh phúc thực sự rất sâu lắng, bình an với niềm vui nhẹ nhàng, thanh thoát.
    2. Nơi chốn
    Khi người Do thái hỏi Đức Giêsu về nước Thiên Chúa, Đức Giêsu khẳng định: "Triều Đại Thiên Chúa không đến như một điều có thể quan sát được. Và người ta sẽ không nói: "Ở đây này! hay "Ở kia kìa! , vì này Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông." (Lc 17:20-21). Ở giữa là ở đâu? Chắc chắn không những chỉ ở trên chốn trời cao vô vàn hạnh phúc, mà còn ở ngay tại dưới thế trần này dù phải đối đầu với muôn nỗi khó khăn, cơ cực, đắng cay. Hay nói chính xác và cụ thể hơn: Nước Thiên Chúa ở ngay trong tâm mỗi người chúng ta. Làm sao biết? Bởi vì đặc điểm căn bản của nước Thiên Chúa là công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần. Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em. (1 Cr 6:19). Như vậy chứng tỏ nước Thiên Chúa ở ngay trong lòng mình. Nói cách khác, dù bất cứ nơi đâu ta sống trong Thánh Thần thì ở đó ta được vui hưởng hoan lạc Thiên Đàng.
    3. Thời gian
    Đức Giêsu đã xác định: Đang ở giữa các ông. Thì ra nước Thiên Chúa đã được khai mạc ngay tại trần gian này vào thời điểm hiện tại vĩnh cửu - ĐANG - chứ không phải trông chờ một nước Thiên Đàng mai sau nơi thế giới bên kia - ở mãi tận phương trời vô định xa xăm nào đó với những mơ ước mong manh diệu vợi.
    4. Điều kiện hưởng nước Chúa
    Vẫn dựa trên nền tảng: Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần. Như vậy, điều kiện để hưởng nước Chúa chính là sống và lớn lên trong Thánh Thần. Chúng ta phải tin rằng Thánh Thần đang thực sự sống trong tâm hồn mình, từ đó tập sống trong Ngài ngày này qua ngày khác. Nhờ Thánh Thần là nguồn sống, nguồn sức mạnh nâng đỡ, dìu dắt ta bước đi trong đới sống mới - một cuộc sống dối dào bình an, hoan lạc. Chính lúc này chúng ta cảm nhận được rằng chúng ta đang thực sự vui hưởng Thiên Đàng ngay tại trần gian này với hương vị ngọt ngào của niềm hạnh phúc nhẹ nhàng thanh thoát.
    Điều kiện nghe có vẻ rất dễ, nhưng cũng rất khó. Dễ đối với ai chịu mở lòng lắng nghe và đón nhận Lời Chúa vào lòng mình như một mảnh đất tốt, rồi thực tập sống. Nếu có gì khó khăn - mà chắc chắn là gặp rất nhiều khó khăn trong thời gian đầu - đừng ngại, chúng ta chỉ cần viết thơ chia sẻ trên một trang web nào đó, bảo đảm sẽ có hàng chục email bay về góp ý, nhờ đó ta sẽ tìm được cách lớn lên trong Thần Khí Thiên Chúa một cách tương đối dễ dàng. Nếu xem xong, nghe xong, ta dẹp sang một bên, thì không ai có thể sống thay cho mình, kể cả Chúa cũng đành chịu!!
    Xin lưu ý
    Vì chủ đề của bài này là Thiên Đàng, nên chúng ta có cảm tưởng rằng Thiên Đàng là mục đích cuối cùng của cuộc sống đời Kitô hữu. Thực ra, không phải vậy. Thiên Đàng chỉ là kết quả đương nhiên của cuộc sống kết hợp nên một với Chúa trong Thánh Thần. Đây mới chính là mục đích của đời sống tâm linh. Chính vì thế, điều khiến tâm đắc nhất, mối bận tâm nhất của chúng ta lúc này là sống trong Thánh Thần để cuộc đời kết hợp nên một với Chúa ngày càng hoàn hảo hơn, viên mãn hơn, trọn vẹn hơn. Và chính những giây phút ngọt ngào đó là lúc chúng ta đang hưởng Thiên Đàng ngay tại thế gian đầy vất vả, khó nguy với chông gai lởm chởm trên đường.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ VN
  • Emailto:khongnhuan@gmail.com
  • Friday, June 10, 2005

    DẤN THÂN RA KHƠI – LOAN BÁO TIN MỪNG

    John of God Khổng Nhuận

    I. DẤN THÂN RA KHƠI

    Dấn thân - Ra khơi khởi đi từ đâu ?
    Trước đây ta cứ tưởng ra khơi chỉ đơn giản là ra khỏi nhà mình và ta phải dấn thân vào nơi thử thách, trở ngại như những sóng gió giữa biển khơi mịt mùng đầy bão tố và nguy hiểm. Ta sẽ phải chiến đấu trong một trận chiến thiêng liêng đầy cam go và thử thách với Satan và bè lũ của chúng.
    Nhưng theo ánh mắt tâm linh ra khơi chính là ra khỏi Căn Nhà Tù Túng Cái Ta Của Mình để bơi lội trong biển khơi bát ngát nghìn trùng của tình yêu Chúa. Nói cách khác, đó chính là những giây phút sống kết hiệp thân mật với Chúa. Đốt tàu cũng vậy, đó chính là đốt con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối - kể cả những lừa dối rất dỗi thánh thiện như những trường hợp thúc giục nhau đi Loan Báo Tin Mừng như vẹt. Vậy ta phải đốt con người cũ để mặc con người mới - là con người đã đuợc sinh ra theo hình ảnh của Thiên Chúa. Như thế, ra khơi hay đốt tàu chính là từ bỏ cái ta - sống kết hiệp với Chúa để nếm thử, để cảm nghiệm hương vị ngọt ngào, bình an và hoan lạc trong Thần Khí của Ngài. Chính niềm bình an và hoan lạc này là Tin mừng đang toả hương ngọt ngào trong ta.

    II. LOAN BÁO TIN MỪNG

    Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng của chúng ta phải theo tuyên ngôn của Đức Giêsu. Ta xin giới thiệu câu Kinh Thánh rất quen thuộc làm nền tảng:
    Thần Khí Chúa ngự trên ta, vì Chúa đã xức dầu tấn phong ta, để ta loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai ta đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức,(Lc 14:18)
    Trước hết ta xin mạn phép nói cách khác cho dễ hiểu hơn
    Thần Khí Chúa ngự trên ta,
    vì Chúa đã xức dầu tấn phong ta,
    để ta loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.
    Người đã sai ta đi công bố
    cho kẻ bị giam cầm biết họ vốn tự do
    cho người mù biết họ vốn sáng mắt,
    cho người bị áp bức biết họ vốn ung dung thoải mái
    Đây không phải là ta dám cả gan sửa lại Lời Chúa, nhưng ta chỉ nói cách khác - một cách cho người bình dân dễ hiểu mà thôi.
    Ta xin phép phân tích lại từng đoạn

    1. ĐIỀU KIỆN CỦA LOAN BÁO TIN MỪNG

    Điều kiện buộc phải có cho Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng chính là cảm nhận thực sự Thần Khí Chúa ngự trên ta với một niềm xác tín sâu xa và sống động. Như ta đã chia sẻ trong những bài trước, muốn cảm nhận Thánh Thần hiện diện và sống trong tâm mình thì trước hết phải tin rằng :
    Ta là con Thiên Chúa, do chính Ngài sinh ra - ta phải nội tâm hoá lời Chúa trong Tin Mừng Gioan
    Ta được sinh ra, không phải do khí huyết,
    cũng chẳng do ước muốn của nhục thể,
    hoặc do ước muốn của người đàn ông,
    nhưng do bởi Thiên Chúa.(Ga 1:13)
    Trước khi sinh ta ra, Ngài đã chuẩn bị cho ta rất chu đáo: Ngài đã thánh hoá từng người trong chúng ta bằng chính Thần khí của Ngài, nhờ đó ta vốn thánh thiện từ đầu đến chân. Và Ngài xức dầu tấn phong ta làm ngôn sứ cho muôn dân - không phải dùng dầu Ô-liu, nhưng Chúa Cha đã dùng Thánh Thần mà thánh hiến ta, tiền định cho ta làm ngôn sứ. Có như vậy Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng của ta mới danh chính ngôn thuận bởi chính Chúa đã giao trọng trách này cho ta ngay từ khi ta còn trong lòng mẹ cơ mà.
    "Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi;
    trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi,
    Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân."(Gr 1:5)
    Còn khi ta chịu phép thánh tảy thì cũng như Đức Giêsu ngày xưa, trước khi lên đường Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng, ta đã lãnh nhận sứ mạng do chính Chúa Cha một cách công khai trước linh mục, cha mẹ, ho hàng…
    Khi Đức Giê-su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người.17 Và có tiếng từ trời phán: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người."(Mt 3:16-17)
    Như vậy, tự bản chất, ta đã là ngôn sứ của Chúa, nhờ Thần Khí Chúa ngự trên ta – và đây cũng chính là điều kiện căn bản của Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng. Thiếu điều kiện này thì Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng lập tức sẽ rơi vào khủng hoảng cho cả người loan báo lẫn người-bị-nghe-Tin-Mừng vì không có sức sống của Thần khí Thiên Chúa. Từ khám phá tuyệt vời này, quan niệm ta thay đổi hoàn toàn. Ta bắt đầu tập sống với Chúa với tư cách một người con yêu dấu của Ngài, nhờ sức mạnh của Thần Khí ngay trong tâm mình. Quả thật ta cảm nhận rõ ràng mình nghiệm được hương vị bình an và hoan lạc trong Thánh Thần và đây cũng chính là Tin Mừng mà ta cần phải loan báo cho người khác.
    Xin quý vị lưu ý: Thần Khí Chúa ngự trên ta không có nghĩa là có ông Thánh Thần ngự ở bên trên đầu ta như vị chỉ huy, nhưng thực ra Thần Khí Chúa ở ngay trong tâm ta, là nguồi sống, nguồn bình an, nguồn hoan lạc, chính sự sống viên mãn và niềm bình an hoan lạc này đã trở thành tin mừng đích thực mà Chúa muốn náo nức chia sẻ với người khác qua lời nói và cuộc sống thường ngày của ta. Câu Kinh Thánh mà ta rất tâm đắc chứng tỏ điều này: Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta(Rm 5:5)

    2. LOAN BÁO TIN MỪNG CHO KẺ NGHÈO HÈN

    Ai là người nghèo hèn? Tất cả những ai chưa nhận ra con người đích thực của mình. Trước đây, ta chưa nhận ra con người đích thực của mình. Ta chỉ nhìn thấy con người xác thịt của mình nên ta cảm thấy mình quả là nghèo hèn trước mặt Chúa. Chúa ngàn trùng thánh đức còn ta là vật mọn phàm hèn, yếu đuối, tội lỗi, chẳng đáng Chúa ngự vào lòng. Ta đã kéo lê cuộc sống đấy chản nản và đau khổ, vui ít, buồn nhiều. Tối ngày chạy theo những đam mê, dục vọng trần gian như con thiêu thân. Đúng là kẻ vừa nghèo vừa hèn.

    3. NGÀI SAI TA ĐI CÔNG BỐ

    Một trong những việc chủ yếu của Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng chính là công bố điều mình đã xác tín, đã sống, đã cảm nghiệm chứ không phải cung cấp cho họ một mớ lý thuyết suông. Theo thứ tự từ dễ tới khó, từ thấp lên cao, từ tiểu học tới đại học. Con đường tâm linh không nhất thiết cần phải có kiến thức cao hay sâu. Kiến thức cao sâu là một con dao hai lưỡi rất lợi hại: Nó có thể giúp ta tiến rất nhanh, nhưng cũng có thể làm ta xơ cứng vì đầu óc ta đầy ắp những kiến thức mà ta cho là khuôn vàng thước ngọc. Như vậy, Loan Báo Tin Mừng chủ yếu chỉ cần công bố cho người khác thông qua việc chia sẻ cảm nghiệm bằng chính đời sống và niềm xác tín của mình. Chứng nhân quý hơn thầy dạy.

    4. CHO NGƯỜI MÙ BIẾT HỌ VỐN SÁNG MẮT

    Trong một buổi chia sẻ Lời Chúa về đoạn Tin Mừng nói về người mù từ lúc mới sinh, tôi đã từng chia sẻ với anh em. Tôi khám phá ra rằng: tôi vốn sáng ngay con trong lòng mẹ, nhưng rồi sống giữa trần gian, tình, tiền, tài, danh vọng, sắc dục đã làm tôi mờ mắt và tâm trí trở nên mê muội, càng chạy theo đam mê thế gian, mắt tôi càng mờ hơn… cho tới khi tôi đọc Kinh Thánh và cá nhân hoá mình với Giêrêmia, tôi mới chợt nhận ra bấy lâu nay mình vốn sáng mắt mà mình không biết.
    Trong khi nghe tôi chia sẻ, anh huynh trưởng của tôi - người chủ trì phiên họp - có vẻ không đồng ý lắm và cuối cùng trong lúc đúc kết, anh mạnh mẽ khẳng định với anh em rằng: Tất cả chúng tôi đều mù từ lúc mới sinh vì Kinh Thánh viết rõ như thế - mù từ lúc mới sinh.
    Vì tôn trọng anh, tôi không muốn tranh luận hay dồn anh vào thế bí. Nếu tôi đặt cho anh 2 vấn nạn, không biết anh sẽ trả lời sao đây:
    • Ta là con của Chúa do chính Chúa sinh ra, mang hình ảnh của Thiên Chúa, mà Chúa là ánh sáng thì ta – hình ảnh của Chúa - làm sao lại mù tối được, hay là anh huynh trưởng của ta lại cho rằng Chúa cũng mù nốt ?
    • Nếu ta mù từ lúc mới sinh thì chắc chắn ta không chịu trách nhiệm gì về những tội lỗi ta đã gây ra, mà người chịu trách nhiệm đó: chính là Chúa. Vì Chúa sinh ra ta chứ không phải quỷ hay Satan sinh ra thằng ta mù tối này. Thí dụ như một người con mù từ lúc mới sinh, nến nó đụng phải bình rượu quý vỡ tan tành, hay vô tình cầm dao làm chết người khác thì ta nghĩ: không một người cha nhân lành nào lại kết án và phạt nó phải chết (hình ảnh của hoả ngục: chết muôn đời).
    Anh mù ở Bét-xai-đa không sáng mắt ngay lập tức, bắt đầu thấy người ta lờ mờ như cây cối đi, rồi mới dân dần mới rõ hẳn. Ta cũng vậy, sau hơn ba mươi năm gần như mù, quá trình thấy của ta xảy ra tất chậm, hàng mấy năm trời mới thấy khá rõ, và bây giờ, ngày càng thấy rõ hơn. Cuối cùng ta chợt khám phá ra một điều cực kỳ thú vị: hoá ra mình vốn sáng mắt chứ có phải mù tối đâu. Nói cách khác, ta đã bay vào vùng ánh sáng:
    Còn anh em, anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền (1Pr 2:9)
    Một khi mắt đã sáng rõ trở lại, thì lập tức cũng thấy mình vốn tự do thoải mái, không còn cảm thấy mình bị giam cầm hay bị áp bức nữa.
    Bởi vì Chúa là Thần Khí, và ở đâu có Thần Khí của Chúa, thì ở đó có tự do (2Cr 3:17).
    Sáng nay, bất ngờ đọc cuốn “Thánh Gioan Thánh Giá ”, tôi rất thích thú khi biết nguồn gốc của thuật ngữ Ngôn Sứ trong tiếng Hipri: (trang 20-21)
    • Ro’eh : Người nhìn thấy
    • Nabhi : Người công bố, Người làm chứng
    Sứ điệp đầu tiên của vị Ngôn sứ là cuộc sống của ông, là kinh nghiệm riêng tư của ông về Thiên Chúa, kinh nghiệm làm cho ông thành một ngôn sứ đích thực
    Như vậy, ngôn sứ đích thực phải là người nhìn thấy. Nhìn thấy gì? Nhìn thấy gương mặt đích thực của mình và niềm hạnh phúc mình đang vui hưởng, lúc đó mình mới công bố điều mình đã khám phá, đã cảm nghiệm, đã sống ngay trong đời sống bình thường của đời mình.
    Như thế, điều quan trọng là: Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng đòi hỏi phải loan báo cho chính mình trước đã, rồi mới dấn thân loan báo cho người khác. Xin mạn phép kể ra một vài bước chuẩn bị như sau:
    1. Xác tín mình là con yêu dấu của Ngài. Ngay từ trong lòng mẹ, Chúa dùng Thần Khí của Ngài để thánh hoá ta và sai ta làm ngôn sứ cho muôn dân.
    2. Vì thế, dù chưa mở mắt chào đời, chưa bíêt lên tiếng cầu xin thì Chúa đã tuôn đổ tình yêu của Ngài vào lòng ta. Vì thế tâm hồn ta tràn đầy Thần Khí Ngài. Nhờ đó, bản chất ta vốn thánh thiện, mạnh mẽ, sẵn sàng lên đường làm ngôn sứ của Ngài.
    3. Trong khi thực hiện sứ mạng Ngôn Sứ, Khám phá tới đâu, ta chia sẻ tới đó; cảm nghiệm tới đâu, ta công bố tới đó. Và ngay trong khi ta chia sẻ lại là lúc ta cảm nghiệm điều mình nói một cách sâu sắc nhất, mãnh liệt nhất và niềm xác tín này càng ngày càng vững chắc hơn.
    Tóm lại, qua bài chia sẻ này, tôi chỉ muốn kể lại những điều tôi đã chứng kiến tận mắt, và đặc biệt là những cảm nghiệm thú vị tuyệt vời mà tôi đã và đang nếm hưởng trong việc Loan Báo Tin Mừng cho chính con người của mình, trước khi Loan Báo Tin Mừng cho những anh chị em khác.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ VN
  • Emailto:khongnhuan@gmail.com
  • Saturday, June 04, 2005

    CHỨC TƯ TẾ DO PHÉP RỬA

    Bài tin mừng Chúa nhật thứ Hai mùa chay vừa đi qua, nhưng ý nghĩa vẫn còn mãi mãi thâm sâu

    Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem.22 Các người thờ Đấng các người không biết; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do-thái.23 Nhưng giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật(Ga 4:21-23)

    Thờ phượng trong Thần Khí và sự thật là một điều rất khó hiểu đối với đa số giáo dân vì Thần Khí và chân lý vừa vô hình vừa mang vẻ cao siêu huyền bí.

    Để dễ hiểu hơn, chúng ta có thể tìm hiểu việc thờ phượng với thiên chức tư tế do Phép Rửa.

    Qua bài “Giáo dân thời giáo hội sơ khai:những viên gạch xây dựng một nền thần học giáo dân”, Lm Phan Đình Cho đã bàn về chức tư tế do phép rửa do Phép Rửa khá lý thú và đưa ra những kết luận tích cực sau đây:

    Mọi Kitô hữu được trở thành tư tế do phép rửa và vì thế họ (giáo hoàng, giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân) đều bình đẳng với nhau do được tham dự vào chức tư tế của Chúa Giêsu Kitô, là phẩm giá cao nhất của mọi Kitô hữu. Không có một chức tư tế nào khác trong giáo hội cao trọng hơn chức tư tế này.

    Theo lược đồ này thì Giáo hội gồm thành phần đại đa số Giáo dân và một phần thiểu số gồm linh mục, giám mục, giáo hoàng, mà mỗi thành phần đều mang một sứ vụ chuyên biệt - tuỳ hoàn cảnh, nhưng tất cả các sứ vụ đó đều nhắm vào lợi ích cho toàn giáo hội. Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí.5 Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa.6 Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người.7 Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung..(1Cr 12:4-7)

    Vậy giáo dân mang những sứ vụ nào? Có nhiều, nhưng trong khuôn khổ bài này chúng ta cùng nhau bàn về sứ vụ tư tế do phép rửa.

    Tế tự hình thức: Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha,
    không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem
    Nếu chỉ hiểu theo nghĩa tế tự bên ngoài thì vô phương. Ngay cả những người trưởng thành cũng dễ lâm vào cảnh bị động vì chủ tế hầu như bao sân tới 80%. Giáo dân chỉ đáp vài câu, hát vài bài, nhiều nơi ở Viêtnam khoán trắng cho ca đoàn. Cuối cùng thì giáo dân cũng chỉ chủ yếu là xem lễ và nghe hát. Còn chức tư tế dường như cũng chỉ để lộng kiếng (liệng cống!)mà thôi! Hơn nữa, nếu chỉ hiểu theo nghĩa tế tự thì thời gian dành cho sứ vụ này quá ít - nhiếu lắm là 2 tiếng đồng hồ một tuần - khi tham dự lễ ngày Chúa nhật. Tính theo tỷ lệ 2/ 168 giờ

    Tế tự tâm linh: Những người thờ phượng đích thực
    sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật
    Như vậy tư tế phải được hiểu theo nghĩa tâm linh.

    Nói tới tư tế chúng ta thường hiểu là dâng hiến,
    "Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy."(Cr 11:24)

    Đức Giêsu đã làm gương cho chúng ta bằng cách hiến dâng chính mình trên đồi Can-vê, vậy chúng ta cũng cần phải nghe theo thánh Phaolô

    Anh em là những người sống đã từ cõi chết trở về, anh em hãy hiến toàn thân cho Thiên Chúa, và dùng chi thể của anh em như khí cụ để làm điều công chính, phục vụ Thiên Chúa.14 Tội lỗi sẽ không còn quyền chi đối với anh em nữa, vì anh em không còn lệ thuộc vào Lề Luật, nhưng lệ thuộc vào ân sủng.(Rm 6:13-14)

    Thế nào là hiến toàn thân cho Thiên Chúa? Trước kia chúng tôi đã từng nghe các cha dạy rằng: Sáng sớm dâng cả ngày cho Chúa thì cả ngày hôm đó coi như đã được thánh hoá. Nhưng rồi chúng tôi nhận ra rằng không phải như vậy. Sống với Chúa phút nào thì mới được phút ấy. Chính vì vậy chúng ta mới nhắc nhở nhau: trong mỗi ngày, nên dành nhiều giây phút Thức Tỉnh để ý thức chúng ta chỉ là khí cụ còn Chúa mới chính là người đang thực hiện và làm chủ công việc của mình qua bàn tay, môi miệng của mình..Càng nhiều lần càng tốt – đây cũng chính là hiến dâng thân mình - thực hiện vai trò tư tế của mình một cách sống động nhất, thánh thiện nhất, đẹp lòng Chúa nhất.

    Thêm vào đó, thực thi ý Chúa cũng là một cách thực hiện chức vụ tư tế một cách sâu xa và đích thực .
    Đức Ki-tô nói: Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể.6 Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội.7 Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài, (Dt 10:5-7)

    Ý Chúa là một vấn đề gay go, tế nhị, và dễ bị người ta sử dụng để sai bảo, cai trị cấp thừa hành với chiêu bài: Ý huynh trưởng là ý Chúa. giữa những ý kiến khác nhau thì ý của huynh trưởng nào cao nhất trong đám sẽ mặc nhiên coi là ý Chúa. Tai hại hơn nữa, người ra thường dùng ý của huynh trưởng là ý Chúa để khủng bố tinh thần anh em với lý luận: Ở trên giao công tác mà không nhận thì làm việc cho Satan. Còn cấp dưới mà có ý kiến khác, hay dù có sáng kiến hữu ích nâng đỡ cộng đoàn nhưng không hợp ý huynh trưởng cấp cao thì lập tức bị chụp mũ là không vâng phục, làm rối loạn trật tự cộng đoàn, khiến anh em hoang mang không biết nghe ai!!

    Thực ra, theo ánh mắt tâm linh, có một tiêu chuẩn khá rõ: khi làm bất cứ việc gì nếu chúng ta làm với ý thức giống như Đức Giêsu: Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình.(Ga 14:10) thì chắc chắn những giây phút đó chúng ta đang thực thi ý Chúa. Tôi xin phép được nhắc lại chỉ những giây phút ý thức Chúa thực sự sống trong ta mới có giá trị, bởi vì có khi chỉ 3 phút sau, hàng chục tiếng nói thế gian, tiếng nói xác thịt chen vào hoặc chúng ta lại tiếp tục làm việc như cái máy thì đừng kể đó là ý Chúa nhé! Tế nhị hơn nữa là rất nhiều trường hợp rõ ràng khởi đấu là ý Chúa nhưng rồi ý tôi nhè nhẹ xen vào, nhưng vì được khoác một áo choàng thánh thiện, nên bên ngoài rõ ràng là chúng ta đang thực thi ý Chúa nhưng ẩn nấp tận đáy lòng - nơi âm u khó phát hiện nhất – cái tôi đang thúc đẩy và giật giây toàn bộ. Thí dụ như tôi muốn loại một tay hay có sáng kiến – tuy có phần tích cực, nhưng dễ làm tôi lu mờ trước những ý kiến độc đáo đó. Thế là tôi mượn bức bình phong “duy trì sự ổn định cộng đoàn” tìm cách loại hắn ta bắng cách thăng chức cho ngồi chơi xơi nước. Cuối cùng hắn nản quá, rời bỏ cộng đoàn. Với tư cách là một người canh cửa, tôi đã loại được một tên làm mất sự ổn định ù lỳ của cộng đoàn; Với tư cách một lính cứu hoả, tôi đã dập tắt những sáng kiến làm mất sự bình lặng của cộng đoàn. Nhưng bề ngoài tôi vẫn an tâm và tự hào là một người làm tròn trách nhiệm một huynh trưỏng cao cấp theo đúng ý Chúa. Hậu quả là hiện nay tôi một mình phải quán xuyết mọi chuyện trong cả cộng đoàn lên tới hàng ngàn thành viên, tôi phải loay hoay giải quyết hết sức lúng túng vấn đề nhiều người rời bỏ cộng đoàn, một vài nơi ra hàng loạt..Rõ ràng khởi đầu là tôi hiến dâng cả đời mình cho Chúa, để thực thi ý Chúa nhưng quá trình thực hiện thì ý của cái tôi xen vào lúc nào không hay.

    Thánh Phaolô còn đưa ra cách thực hiện tế tự khác - đó là Loan Báo Tin Mừng:
    Tôi viết thế là dựa vào ân sủng Thiên Chúa đã ban cho tôi16 làm người phục vụ Đức Giê-su Ki-tô giữa các dân ngoại, lo việc tế tự là rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa, để các dân ngoại được Thánh Thần thánh hoá mà trở nên một lễ phẩm đẹp lòng Thiên Chúa. (Rm 15:16)

    Như vậy chúng ta loan báo Tin Mừng cũng là một hình thức thực hiện nhiệm vụ tư tế của một người Kitô hữu.

    Thời gian tế tự : Nhưng giờ đã đến -và chính là lúc này đây-

    Và đây cũng là một khám phá thú vị với cụm từ Nhưng giờ đã đến -và chính là lúc này đây- ngay lúc này, dù đang ngồi trước máy computer, chúng ta vẫn có thể thực hiện được chức năng tư tế của mình khi chúng ta trầm mình xuống một vài giây để nghe sức sống của Thần Khí Thiên Chúa đang phát nguồn từ con tim tâm hồn, lan tỏa khắp châu thân và thấm vào tận những tế bào nhỏ bé nhất. Đây là thời gian tế tự ngọt ngào bằng những giây phút thực sự sống hiệp nhất với Chúa.



    Tóm lại, chức vụ tư tế của giáo dân không chỉ là tế tự bên ngoài – đi lễ, đọc kinh, lần hạt, viếng Thánh Thể, mà còn hiến cả đời mình làm khí cụ cho Thiên Chúa hoạt động qua sinh hoạt đời thường của mình. Đây cũng là cách thực thi ý Chúa một cách tuyệt hảo. Kết quả tất nhiên là ta hưởng được niềm vui và hoan lạc trong Thánh Thần. Từ niềm vui đó, chúng ta náo nức muốn chia sẻ cho người khác Tin Mừng đang nở hoa trong lòng mình - đây cũng là cách tế tự sinh động nhất.

    Nhân dịp mùa chay này, chúng ta cùng nhau nhìn lại Thiên Chức Tư Tế của người Kitô hữu để chúng ta có thể “ thi hành vuông tròn mau mắn..” như gương anh cả Giêsu đã thực hiện trong đời sống trên dương thế của Ngài.

    Khổng Nhuận
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ VN
  • Emailto:khongnhuan@gmail.com
  • ƠN CỨU ĐỘ - Chính Là Lúc Này Đây

    Ngày xưa còn nhỏ - thời thập niện 50 - Chúng ta thường đọc rang rang: Chúa Giêsu xuống thế làm người, chịu nạn chịu chết trên cây Thánh giá để chuộc tội cho cả và thiên hạ - có nghĩa là ban ơn Cứu độ cho nhân loại để đời sau được hưởng mặt Chúa vui vẻ trên thiên đàng đời đời chẳng cùng Amen. Giờ đây, trong tuần bát nhật Phục sinh, chúng ta nên dành một chút thời gian để nhìn lại Ơn cứu độ, một trong những đề tài nghe rất nhàm tai nhưng nếu nghiên cứu thật kỹ thì lại rất mới lạ và đầy hấp dẫn

    Rất nhàm tai: ƠN CỨU ĐỘ Theo lối nhìn nhân loại.

    Chúng ta đã từng nghe dạy rằng:

    Muốn được ơn cứu rỗi hay thừa hưởng công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô thì đòi hỏi phải có 2 điều kiện tối cần thiết như sau:

    Được tái sinh vào sự sống mới qua phép Rửa ( xem Jn 3:5)

    Tin Chúa Kitô và thực hành giáo lý của Chúa đã được loan báo qua Tin Mừng (Mk 16:16)

    nghĩa là mến Chúa và yêu người như Chúa Giêsu đã dạy, cũng như từ bỏ mọi tội lỗi thì mới được ơn cứu độ.

    Đặc biệt, Thánh Lễ hay Hy Tế đền tội và tạ ơn ( Eucharist) là phương tiện cao trọng nhất để áp dụng ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu cho nhân loại cho đến thời gian cuối cùng, để ban ơn cứu độ cho những ai muốn lãnh nhận

    Khi chúng ta tham dự với lòng tin và ước muốn nhận lãnh ơn cứu chuộc thì sẽ nhận được đầy đủ và hữu hiệu như Chúa Giêsu đã ban cho những ai tin và thành tâm muốn lãnh nhận lần đầu tiên khi Người tế lễ Đức Chúa Cha trên Thánh giá năm xưa. (xem Hiến Chế Lumen Gentium, #á 3)

    Có lẽ đây là một quan niệm rất bài bản và truyền thống và rất thích hợp cho những ai muốn hy vọng hưởng ơn cứu độ. Cụ thể là hy vọng đời sau được hưởng mặt Chúa trên thiên đàng - Hy vọng thôi nhé! Vấn đề hy vọng nhiều hay ít còn tuỳ thuộc mỗi cá nhân sống trên đời này ra sao. Xin nhắc lại một lần nữa: Đời Sau, chứ không phải ngay tại đời này. Nhưng ….

    Nhưng … khi thực hành mới thấy chẳng dễ dàng chút nào. Có thể nói còn khó hơn mò kim đày biển.

    Chúng ta, những người Kitô hữu, đã từng chịu phép rửa nhưng rõ ràng hầu hết chúng ta chưa thấy mình được tái sinh vào sự sống mới. Vẫn tiếp tục lê lết trong lối sống cũ - trong cơn ngủ mê dài, trong bóng tối sự chết. Ơn cứu độ vẫn còn xa xôi mịt mùng.

    Còn việc thực hành giáo lý của Chúa nghĩa là mến Chúa và yêu người còn khó hơn bay lên trời dù là bay với cách chim đại bàng.

    Mến Chúa hay yêu Chúa rất khó vì tôi tội lỗi cần phải nhờ Chúa cứu độ thì lập tức mối tương quan giữa Chúa và tôi trở nên nghìn trùng xa cách. Tôi chỉ có thể tôn thờ Chúa trong niềm kính sợ chứ không thể yêu thương thoải mái được.

    Yêu người còn khó hơn nhiều vì ngay vợ chồng đầu ấp tay gối mà còn đụng chạm; anh em làm việc với nhau mà còn gây tổn thương cho nhau, huống gì đôi khi phải đối mặt thường xuyên với những người khó ưa, khó tính làm sao mà yêu cho nổi. Việc yêu thương người như mình ta vậy Amen, đọc thuộc lòng như cháo mỗi ngày Chúa nhật, nhưng khi thực hiện quả là chua hơn dấm, không dễ chút nào cả. Ngoài ra, nhiều khi mang tiếng là yêu người mà lại hoá ra yêu cái danh thơm tiếng tốt tiếng của thằng tôi. Tôi ra sức làm việc tông đồ - bác ái càng nhiều càng tốt lúc đầu là vì đức ái Kitô giáo nhưng dần dần người ta âm thầm hoặc công khai khen ngợi tôi. Từ đó trở đi, tôi vẫn tiếp tục làm việc tông đồ - bác ái nhưng động lực đã từ từ chuyển biến sang bảo tồn danh dự cá nhân. Tôi càng lớn lên, còn Ngài càng nhỏ đi.

    Còn chuyện từ bỏ tội lỗi quả là một chuyện dài nhiều tập kéo dài suốt cuộc đời. Vì vẫn tiếp tục trong lối sống cũ, nên chuyện từ bỏ mọi tội lỗi trở thành không tưởng. Mới xưng tội xong, chỉ một tuần sau, thậm chí mới vài ngày sau lại đã tái phạm. Con người bị sinh ra trong tội lỗi mà! Con người phàm hèn mà! Quyết tâm rất mạnh mẽ, nhưng lại sa ngã rất dễ dàng bởi vì cứ lấy sức mạnh ý chí của con người xác thịt vốn rất đỗi yếu đuối. thế thì mong gì nhận được Ơn cứu độ.

    Cuối cùng, ta vẫn biết rằng Thánh Lễ hay Hy Tế đền tội và tạ ơn ( Eucharist) là phương tiện cao trọng nhất để áp dụng ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu cho nhân loại Nhưng kỳ lạ thay ta đã đi hàng ngàn thánh lễ, rước lễ cũng hàng ngàn lần. Lẽ ra ta phải gần Chúa hơn, trái lại càng lớn ta lại càng cảm thấy xa Chúa. Tôi quả thực không hiểu Thánh lễ đã áp dụng ơn cứu chuộc như thế nào mà hơn 6000 lần tham dự thánh lễ, ơn cứu chuộc vẫn mịt mù xa xôi !! Còn lời dạy Khi chúng ta tham dự với lòng tin và ước muốn nhận lãnh ơn cứu chuộc thì sẽ nhận được đầy đủ và hữu hiệu. Thú thật tôi không tài nào cảm nhận được điều này. Chúng ta ai lại chẳng tin Chúa ngự qua hình bánh ?! nhưng chuyện sẽ lãnh nhận được đầy đủ và hữu hiệu ơn cứu chuộc thì sao vẫn mơ hồ mông lung.

    Có một hôm, chúng tôi đã nêu thắc mắc với một linh mục: Chúng ta lãnh nhận ơn cứu độ vào lúc nào? Có phải ngay sau khi rước Chúa chăng? Phải rước lễ bao nhiêu lần mới được lãnh nhận? Hay là đợi đến khi chết đi, chúng ta mới được truy lãnh đầy đủ và hữu hiệu ơn cứu độ cùng một lúc cho tiện?

    Vị linh mục đó trả lời: Hiện nay chúng ta hãy cố gắng, cố gắng và chỉ còn biết hy vọng, hy vọng vào ơn cứu độ sẽ được Chúa ban sau khi chúng ta chết mà thôi!!! Không ai có thể vỗ ngực tuyên bố là mình đã được cứu độ ngay ở đời này!!!

    Như vậy lý thuyết đã vẽ ra cả một tương lai rực sáng nhưng thực tế lại là một khu rừng âm u mờ tối dường như khó tìm ra lối thoát. Bởi lẽ theo ánh mắt nhân loại, chúng ta chỉ có thể cố gắng và cố gắng giữ những điều đã được dạy, rồi hy vọng và hy vọng…. ơn cứu độ đời sau mà thôi.

    Xem tới đây, một số độc giả sẽ nêu ra một vấn nạn có vẻ hóc búa dựa vào tâm sự của thánh Phaolô: Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm (Rm 7:19) Và Phao-lô đã thét lên gần như tuyệt vọng: Tôi thật là một người khốn nạn! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này? (Rm 7:24). Ngày xưa, chúng tôi cũng đã từng dựa vào lời này như một cánh phao cứu hộ để biện minh cho sự yếu đuối, vấp ngã của mình. Và lấy đó làm bình phong để an tâm ngủ yên trong con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối. (Ep 4:22). Chính tư tưởng này như viên thuốc độc tai hại đã tiêu diệt ý chí phấn đấu muốn vươn lên thoát khỏi ách nô lệ của bóng tối.

    Nhưng có một điều đáng tiếc là chúng tôi lại không chịu đọc ngay câu tiếp theo: Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta! (Rm 7:25) và đặc biệt là 2 câu đầu của chương 8 Vậy giờ đây, những ai ở trong Đức Ki-tô Giê-su, thì không còn bị lên án nữa. Thật vậy, luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Ki-tô Giê-su, đã giải thoát tôi khỏi luật của tội và sự chết. (Rm 8:1-2). Việc giải thoát khỏi luật của sự tội và sự chết - hình ảnh hoả ngục - chính là chìa khóa mở ra ơn cứu độ theo ánh mắt tâm linh.



    Rất mới lạ và đầy hấp dẫn: ƠN CỨU ĐỘ Theo ánh mắt tâm linh.

    Mang lối nhìn nhân loại, có người đã phải lần mò trong đêm tối hàng mấy chục năm. Làm sao tìm được ánh sáng cứu độ bây giờ ?? Có lẽ chúng ta thử thay đổi quan niệm xem sao.

    Theo ánh mắt tâm linh: Ơn cứu độ mang lại cho ta sự sống đời đời. Điều kiện nghe cũng có vẻ đơn giản hơn: Thật, tôi bảo thật các ông: Ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống. 25 Thật, tôi bảo thật các ông: giờ đã đến - và chính là lúc này đây - giờ các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa; ai nghe thì sẽ được sống.26 Quả thật, Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào, thì cũng ban cho người Con được có sự sống nơi mình như vậy (Ga 5:24-26)

    Điều kiện: Lắng nghe Lời Chúa bằng cách cá nhân hoá và nội tâm hoá.

    Ai nghe lời tôi (Đức Giêsu). Lời Đức Giêsu theo nghĩa hẹp là những lời được ghi chép trong tin mừng. Hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ tân cựu ước. Nói cách khác đó là Lời Chúa. Lời Chúa trong Kinh Thánh thì mênh mông và có nhiều cách nghe như dụ ngôn Người Gieo Giống. Một trong những cách nghe sinh hoa kết quả đó là cá nhân hoá và nội tâm hoá. Chúng ta đọc từ từ và dừng lại thật lâu lời nào khiến mình tâm đắc. (Xin xem lại Đọc Kinh Thánh theo ánh mắt tâm linh. Maranatha số 22). Tất nhiên là mỗi người sẽ tâm đắc và nếm cảm những Lời Chúa khác nhau. Nhưng chắc chắn một khi Lời Chúa thấm dần vào tâm hồn thì tất cả đều có thể đồng cảm với nhau một các dễ dàng vì lý do sau đây:

    Trước kia, họ là những kẻ chết - Kẻ chết ở đây biểu tượng cho tình trạng sống đạo theo thói quen, ai sao tôi vậy, họ sống mà như ngủ mê, vật vờ trong bóng tối sự chết. Nay nhờ Lời Chúa là Thần Khí và là sự sống đã giúp họ từ từ thức dậy sau bao ngày ngủ mê, giúp họ trỗi dậy từ cõi chết. Lúc đó họ cảm nhận rất rõ Chúa đã chiếu ngời ánh vinh quang sự sống, tình yêu, sức mạnh của Chúa, không những trên đầu mà cả toàn thân - tâm của họ nữa. Và họ cũng vui mừng thấy mình quả thực đã từ cõi chết bước vào cõi sống. Kể từ đây họ sống không còn là họ sống thuần túy sự sống của thân xác mà họ bắt đầu sống từ nguồn sống của Thần Khí Thiên Chúa đang tuôn trào trong tâm hồn lẫn thân xác của họ.

    Nói tới cái chết, chúng ta thường nghĩ ngay cảnh nhắm mắt xuôi tay, yên nghỉ trong mộ, về cõi vĩnh hằng. Thực ra, theo ánh mắt tâm linh thì cái chết được hiểu trong tình trạng sống theo con người cũ, con người xác thịt, tất cả quy về mình. Đây chính là tình trạng chết về phần tâm linh. Thánh Phaolô đã chia sẻ: Nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em, thì anh em sẽ được sống.(Rm 8:13). Thêm vào đó, Ngài còn khuyên nhủ: Anh em là những người sống đã từ cõi chết trở về, anh em hãy hiến toàn thân cho Thiên Chúa, và dùng chi thể của anh em như khí cụ để làm điều công chính, phục vụ Thiên Chúa.(Rm 6:13) Sống, chết ở đây chắc chắn phải hiểu theo ý nghĩa hoàn toàn tâm linh chứ không thể hiểu theo nghĩa xác thịt. Rất có thể ta khỏe mạnh như một võ sĩ, nhưng theo ánh mắt tâm linh: ta lại như một tử thi biết đi.

    Một vấn đề khá thú vị: đó là lúc nào thì ta biết được chắc chắn rằng ta là những người sống từ cõi chết trở về. Chính Đức Giêsu đã trả lời: Giờ đã đến - và chính là lúc này đây.(Ga 5:25)

    Chúng ta hiểu như thế nào? Sau một thời gian thấm nhập Lời Chúa và thực tập sống theo những gì mình khám phá thì bỗng nhiên một ngày nào đó, quan niệm của ta hoàn toàn thay đổi, cái nhìn của ta cũng trở nên sâu thẳm hơn. Thấy người ta đi lại, tranh giành.. mà ta tưởng như họ đang diễn tuồng. Thật đó, mà cũng giả đó. Rõ ràng nhất là trước kia tôi chỉ thấy thằng tôi ăn-uống-ngủ-nghỉ, vui-buồn-sướng-khổ, Nay tôi đã dần dần nhận ra sự hiện diện và hoạt động của Chúa ngay trong cuộc đời thường ngày của mình. Cho tới một hôm tôi cảm nghiệm thật mãnh liệt với một niềm xác tìn sâu xa với tình trạng tình thức sáng ngời. Thì đó chính là lúc tôi từ cõi chết bước vào cõi sống. Hay nói cách khác chính lúc đó tôi ý thức mình đã được cứu độ. Cái giây phút mà mỗi người NGỘ không xảy ra cùng một lúc - kẻ trước người sau, nhưng chắc chắn nó xảy ra ngay tại đây, giữa chốn hồng trần đầy vinh hoa phù phiếm với những lời mời gọi cực kỳ quyến rũ của ma quỷ, thế gian và xác thịt.

    Một khi đã từ cõi chết trở về, họ mới cảm nghiệm được tất cả hương vị sảng khoái của lời khẳng định của thánh Phaolô: Vậy giờ đây, những ai ở trong Đức Ki-tô Giê-su, thì không còn bị lên án nữa. Thật vậy, luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Ki-tô Giê-su, đã giải thoát tôi khỏi luật của tội và sự chết.(Rm 8:1-2). Thánh Phêrô cũng đã hoan hỉ chia sẻ: Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền. (1Pr 2:9) Việc giải thoát khỏi luật của sự tội và sự chết để bay vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền là một minh chứng hùng hồn của ơn cứu rỗi. Và Ơn cứu độ lúc này mang đặc tính quả là mới lạ và đầy hấp dẫn. Nỗi sợ hãi ngày xưa đã tan biến nhường cho niềm hoan lạc và bình an trong Thần Khí Thiên Chúa.

    Xin lưu ý quý vị 2 điều:

    Nói như vậy thì ta gạt bỏ Thánh Lễ và Bí Tích sao? Xin thưa rằng Không, Không đời nào! Vì từ khi cá nhân hoá lời Chúa, thì ta bắt đầu nhìn theo ánh mắt tâm linh. Tâm hồn ta thanh thoát vì đã được giải thoát vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền. Từ đó, ta vui hưởng Bí tích một cách hân hoan, một cách ý thức và một cách chủ động; chứ không phải chịu phép Bí Tích một cách vô ý thức hay làm cho xong một bổn phận kẻo phải mang tội. Cụ thể là trong Thánh Lễ ta chăm chú nghe lời Chúa và bài giảng của chủ tế. Lòng ta ấm lên khi Lời Chúa thấm một chút vào tâm hồn. Ta tích cực đối đáp và cùng hát với cộng đoàn: Tôi sẽ cầu nguyện với tấm lòng, nhưng cũng cầu nguyện với trí khôn nữa. Tôi sẽ ca hát với tấm lòng, nhưng cũng ca hát với trí khôn nữa ( 1Cr 14:15) Rồi trong phần hiệp lễ, ta vui vẻ mời gọi Chúa vào lòng mình để xác tín và sống trong tình yêu Chúa mạnh mẽ hơn, chứ không chỉ lên rước lễ như một tên ROBOT ngày xưa…

    Còn một điều dễ gây hiểu lầm: không phải là hiện nay, sau khi từ cõi chết bước vào cõi sống là ta lập tức trở thành thánh sống. Ta luôn sống như Chúa sống. Ta coi thế gian như rác. Hoàn toàn không phải như vậy. Thời gian đầu, ta thực tập sống kết hiệp với Chúa quả là cam go và chua chát như cảm nghiệm của cô con dâu cứng đầu LTCT trong Maranatha số 36. Chỉ vì tiếng nói xác thịt của con người cũ suốt mấy chục năm qua luôn luôn muốn giành quyền làm vua, làm chủ, luôn tìm cách khẳng định con người mình. Do đó, mới đầu, mỗi ngày ta nhớ Chúa và tập sống với Chúa giỏi lắm chừng 10 phút là cùng. Nhưng như vậy còn hơn trước kia ta chẳng nhớ Chúa được 5 giây. Rồi tháng năm trôi qua, thời gian ta sống với Chúa tăng lên và tình thân của ta với Chúa cũng nồng thắm hơn một cách tự nhiên và vững mạnh.

    Tóm lại, Ơn Cứu độ quả là một đề tài thú vị và hấp dẫn. Vấn đề còn lại là mỗi người trong chúng ta lên kế hoạch thực hiện cho riêng mình để chúng ta có thể vui hưởng ơn cứu độ ngay ở đời này. Đây là những tâm tình phát xuất từ cảm nghiệm cá nhân, xin chân thành chia sẻ với quý vị, chứ không dám nêu ra để làm mẫu đâu! Rất mong quý vị thông cảm và hiểu cho. Ước mong Mùa Phục Sinh năm nay - dù đã là tuần cuối cùng trước khi Chúa thăng thiên - sẽ là bệ phóng siêu nhiên mà chúng ta cùng nhau quyết tâm Hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi - đối với nếp sống đạo hình thức của con người cũ - nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Ki-tô Giê-su.(Rm 6:11). Chúng ta cùng hát vang lên trong mùa Phục-sinh-viên-mãn-tâm-linh: Alleluia! Alleluia! Thần Khí ngự trong chúng ta, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong chúng ta, mà làm cho thân xác của chúng ta được sự sống mới.(Rm 8:11)Alleluia! Alleluia!

    Khổng Nhuận
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ VN
  • Emailto:khongnhuan@gmail.com
  • CHÚNG TA NAY ĐÃ PHỤC SINH!

    “Trong mùa phục sinh, các con hãy sống mầu nhiệm phục sinh”. Đó là lời khuyên của các cha giáo chủng viện ngày xưa. Nhưng bọn chủng sinh chúng tôi có hiểu gì đâu. Nghe tai này bay qua tai kia. Chúng tôi như một đàn cừu lẽo đẽo theo nhau mà chẳng biết mình đi tới đâu.

    Sau một thời gian lênh đênh trên dòng đời, theo tâm tình chu kỳ Phụng vụ, vào mùa vọng chúng tôi cũng cố gắng sửa một vài tật xấu. Chưa sửa được bao nhiêu, thì mùa Giáng Sinh huyền diệu đã tới, chúng tôi nao nức đón mừng Chúa giáng trần. Rồi mùa chay lại tiếp nối, những bài thánh ca Hãy trở về, Hãy trở về với Cha, hãy xé lòng đừng xé áo…chúng tôi chau chuốt giọng ca cho thật hay theo cánh tay bay bướm của ca trưởng. Còn chuyện trở về thì chúng tôi ngơ ngơ ngác ngác giống như ông Philipphê ngày xưa "Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường? " (Ga 14:5) Vẫn biết là trở về với Chúa, nhưng chúng tôi nào có biết Chúa ở đâu. Ở trên trời ư? Xa xôi cách trở ngàn trùng! Ở trong nhà tạm ư? Chúng tôi gặp mỗi tuần, thế mà vẫn vô duyên đối diện bất tương phùng! Ở trong lòng chúng tôi ư? Sao chúng tôi chẳng cảm thấy gì! Ở nơi tha nhân ư? Ở trong người ăn xin nghèo khổ lê lết, dơ dáy, bẩn thỉu trên hè phố ư? Hoang đường! Hão huyền! Chúa ở ngay trong lòng mình mà còn không nhận ra thì lấy cặp mắt kiếng nào mà nhìn thấy Chúa trong anh em khốn khổ, tàn tật, trông chẳng dễ thương chút nào! Chúng tôi cùng lắm là thương hại thôi, chứ làm sao mà nhìn ra Chúa đang hiện diện trong họ. Nếu có giúp họ chút ít tiền bạn hay quà cáp thì cũng mang phong cách của người ban phát, ra vẻ ta đây là đạo đức và thì thầm nhắc nhở Chúa: Chúa nhớ ghi vào sổ đấy nhé!

    Vì thế,chúng tôi chỉ đơn giản nghĩ rằng Mùa Chay là mùa ăn chay, kiêng thịt và hy sinh hãm mình. Nhiều giáo xứ tổ chức tĩnh tâm - chủ yếu là nghe cha giảng - về các đề tài về mùa chay cho giới trẻ, các ông gia trưởng, các bà hiền mẫu. Các giáo hạt còn tổ chức giải tội vần công với một lúc hàng chục toà hoà giải để giáo dân tha hồ mà xưng hết tội của mình với các cha khách. Xưng tội với cha nhà, sợ ngài nhận ra tiếng thì nguy to. Rồi mùa Phục sinh lại tới, chúng tôi hân hoan tưng bừng đón mừng Chúa sống lại trong thánh lễ nửa đêm ngập tràn ánh sáng. Biết bao bài thánh ca đã được hát lên trong đêm cực thánh này: Chúa nay thực đã phục sinh Alleluia!Alleluia!

    Để mừng Chúa sống lại, nhiều nhóm, nhiều đoàn thể, đặc biệt là ca đoàn thưởng tổ chức Réveillion ngay sau thánh lễ với bia rượu tràn ly. Chúa đã chiến thắng sự chết, Chúa đã chiến thắng tử thần còn chúng tôi chỉ biết reo mừng với những màn cụng ly Dô! Dô!!!

    Một ngày kia, mấy anh em chúng tôi ngồi lại với nhau và nghiêm chỉnh đặt cho chính mình một câu hỏi: Chúa nay thực đã phục sinh. Còn chúng ta, chúng ta nay đã phục sinh chưa? Cả lũ ặt cổ ra, thế là cả bọn quyết tâm tìm cho ra câu trả lời hóc búa này mới được.

    Xin quý vị độc giả coi đây chỉ là những chia sẻ chân thành của một nhóm giáo dân thao thức mò mẫm tìm cho mình một con đường phục sinh như Đức Giêsu mà thôi.

    Thế là một hội nghị bàn tròn mà chỉ có 3 người đang vò đầu bóp trán để tìm ra phương pháp nào hữu hiệu mau đạt được kết quả. Khởi đầu chúng tôi đi theo con đường cổ điển: đi lễ mỗi ngày, khi gặp điều tức tối khó chịu, thì cố mà dằn lòng mình xuống.... Một hai tháng sau chúng tôi cảm thấy mình có vẻ đạo đức hơn, gần Chúa hơn, nhưng chẳng cảm cảm thấy một chút gì gọi là phục sinh. Thế là phải tìm một hướng khác. Chúng tôi quyết tâm đọc lại toàn bộ cuốn Tân Ước và tham khảo một số đoạn Cựu Ước. Suốt một năm, mỗi tuần gặp nhau, chúng tôi nêu suy nghĩ, thắc mắc, chia sẻ những khám phá mới trong một quán café vắng người. Đôi khi, một vấn đề được đưa ra, nhưng mỗi người đều hiểu và giải thích khác nhau. Tuy nhiên chúng tôi vẫn tiếp tục hứng thú cùng nhau tìm hiểu thêm. Cuối cùng, chúng tôi làm một đúc kết nho nhỏ ghi lại những khám phá thú vị về việc phục sinh của người giáo dân.

    Đúc Kết Nho Nhỏ
    v Nêu thắc mắc và tìm cách trả lời
    Trước hết, chúng tôi đưa ra một loạt câu hỏi rồi tự trả lời cho nhau nghe.

    Chúa nay thực đã phục sinh, đúng rồi, nhưng Ngài phục sinh cái gì?

    Tất nhiên là Ngài phục sinh thân xác.

    Nếu bảo phục sinh thân xác thì vô nghĩa, chính Ngài đã dạy chúng ta: Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống. (Ga 6:83).

    Nếu Ngài không phục sinh thân xác, vậy Ngài phục sinh cái gì?

    Vậy thì Ngài phục sinh tâm hồn!

    Không thể nói Ngài phục sinh tâm hồn vì "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống”.(Ga 11:26) Nếu thế thì sự phục sinh của Ngài mang ý nghĩa: Ngài đã chiến thắng tử thần.

    À, có lý! thế thì chúng ta cùng nhau tìm hiểu và khám phá Lời Chúa sau đây.

    Vậy khi cái thân phải hư nát này mặc lấy sự bất diệt, khi cái thân phải chết này mặc lấy sự bất tử, thì bấy giờ sẽ ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây: Tử thần đã bị chôn vùi. Đây giờ chiến thắng! (1Cr 15:54)

    Rõ ràng câu trên có nghĩa là: điều kiện để phục sinh là khi thân xác hư nát hay chết này mặc lấy sự bất tử, bất diệt. Chính lúc đó: Tử thần đã bị chôn vùi. Đây giờ chiến thắng! Nói cách khác, chúng ta nay đã phục sinh.

    v Làm cách nào mặc lấy sự bất tử?
    Vấn đề quan trọng trước mắt là làm cách nào để cái thân xác phải chết này mặc lấy sự bất tử. Và đây cũng chính là quá trình từ cõi chết bước vào cõi sống.

    Quá trình từ cái chết tâm linh chuyển sang sự sống dồi dào bắt nguồn từ Thiên Chúa: chúng ta có thể chia làm 3 giai đoạn chính:

    1. Giai đoạn một: Làm cách nào để mặc lấy sự bất tử - cũng chính là sự sống đời đời của Chúa.

    Muốn nhận ra sự sống đời đời của Chúa, không gì tốt hơn là chúng ta tìm hiểu con người của Đức Giêsu: Thật, tôi bảo thật các ông: giờ đã đến - và chính là lúc này đây - giờ các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa; ai nghe thì sẽ được sống. Quả thật, Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào, thì cũng ban cho người Con được có sự sống nơi mình như vậy. (Ga 5:25-26) Qua câu này, chúng tôi khám phá ra rằng: Chúa Cha không chỉ ban cho Đức Giêsu mà còn ban cho tất cả chúng ta nữa - những người em của anh cả Giêsu - bắt nguồn từ tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa , cho nên: Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc (Rm 8:29).

    Lúc đó, chúng tôi xoáy vào 3 hình ảnh tuyệt vời của Đức Kitô:

    Con Thiên Chúa: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người." (Mt 3:17).

    Đầy Thần Khí Thiên Chúa: “Đức Giê-su được đầy Thánh Thần,” (Lc 4:1).

    Nên một với Chúa Cha: “Chúa Cha ở trong tôi và tôi ở trong Chúa Cha." (Ga 10:38)

    Và người Kitô hữu, vì được đồng hình đồng dạng với Đức Kitô - nên cũng mang 3 hình ảnh tuyệt vời y như Đức Kitô:

    Con Thiên Chúa: “Thực sự chúng ta là con Thiên Chúa”. (1Ga 3:1)

    Đầy Thần Khí Thiên Chúa: “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta”. (Rm 5:5)

    Nên một với Chúa : “Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một như chúng ta là một”. (Ga 17:23)

    Trước kia, chúng tôi sống theo con người xác thịt, mê mẩn trong cơn lốc tình, tiền, tài, danh vọng, lạc thú của thế gian. Nhưng từ khi chúng tôi khám phá ra khuôn mặt thật của mình dựa vào con người của Đức Kitô. chúng tôi đã cảm nhận được phần nào cái thân xác hay chết này đang mặc lấy sự bất tử. Giờ đây viết lại, chỉ ngắn ngủi 5, 6 hàng, nhưng chúng tôi đã phải tốn gần cả năm trời nghiên cứu, tìm hiểu mới phát hiện ra những điều nghe có vẻ thật đơn giản này.

    2. Giai đoạn hai: Khúc ngoặt lịch sử

    Từ khi nhận ra khuôn mặt đích thực của mình, chúng tôi tập sống trong tâm tình của người con yêu dấu của Chúa, nhờ sức mạnh Thần Khí ngay trong tâm mình. Bỗng một hôm, kẻ trước người sau, mỗi người trong chúng tôi âm thầm nhưng cực kỳ xác tín: Tôi đã phục sinh. Hôm đó, bỗng nhiên tôi thấy mình không phải là mình giống như trước kia nữa. Tôi nhìn người ta đi lại trên đường mà như nửa thật nửa mộng - dù lúc đó tôi rất tỉnh. Tôi phóng xe giữa dòng thành phố mà như chốn không người - trong khi đang chạy xe rất dàng hoàng và đúng luật. Những bon chen thường ngày tự nhiên gần như vô nghĩa. Lúc đó, tôi không còn quá thiết tha với những đam mê thủa trước mà trong lòng vẫn thơ thới hân hoan. Hơn một tuần sau, chúng tôi gặp lại nhau và chia sẻ cho nhau những cảm nghiệm mới nhất. Thì ra cả ba chúng tôi đều nhận ra thân xác hư nát hay chết này lần đầu tiên đã mặc lấy sự bất tử, bất diệt. Và chúng tôi cùng reo lên: chúng ta nay đã phục sinh! Chúng tôi đã tìm được câu trả lời!

    3. Giai đoạn ba: Bắt đầu cuộc sống mới

    Từ khi nhận ra mình đã phục sinh. Chúng tôi bắt đầu sống cuộc sống dồi dào như Đức Giêsu đã từng mong ước: sống tự do, tự chủ, đầy sức mạnh Thần Khí Thiên Chúa, ngập tràn hạnh phúc và bình an. Nhưng vì chúng tôi đã nhiễm quá nặng tư tưởng thế gian suốt mấy chục năm, thành thử ra chúng tôi hay phản ứng theo cách của con người cũ đã in dấu quá đậm trong trí não của chúng tôi. Thường thường khi có một biến cố gì xảy ra thì tiếng nói của con người cũ luôn luôn lên tiếng trước với những lý luận hết sức thuyết phục. Hay thỉnh thoảng, nghe lời ngon ngọt của thân xác, chúng tôi vấp ngã. Tuy nhiên, chúng tôi có thể đứng dậy dễ dàng sau những vấp ngã, phần thì chúng tôi đã nhận ra bộ mặt giả mạo của thân xác hay chết, phần thì chúng tôi ý thức sức mạnh vô biên của Thần Khí Thiên Chúa ngay trong tâm mình.

    Có một điều rất kỳ lạ! Lẽ ra chúng ta phải cởi bỏ con người cũ hay hư nát, rồi mới khoác cho mình con người mới. Đàng này, chúng tôi lai lo tìm gương mặt con người mới theo khuôn mặt tuyệt vời của Đức Kitô. Ai ngờ, khi khám phá ra khuôn mặt đích thực của mình thì những mặt nạ tiền tài, danh vọng, đạo đức giả, đam mê… của con người cũ hay hư nát tự nhiên rơi xuống, và lập tức cái thân xác hư nát hay chết này lần đầu tiên đã mặc lấy sự bất diệt - cuộc phục sinh bắt đầu…

    Nói như vậy thì chúng ta dẹp bỏ chu kỳ phụng vụ của Giáo hội hay sao? Xin trả lời : Hoàn toàn không phải vậy. Như vừa trình bày, tuy chúng ta đã bắt đầu cuộc sống mới nhưng chúng ta đã bị nhiễm quá nặng tư tưởng thế gian nên vẫn cần phải có mùa vọng để ta tiếp tục bạt, tiếp tục lấp những lối sống cũ; vẫn cần mùa chay để tiếp tục cởi bỏ con người cũ theo cách nhìn của nhân loại, và mặc con người mới theo lối nhìn tâm linh phát xuất từ Thần Khí Thiên Chúa để ngày càng giống hình ảnh ảnh Thiên Chúa hơn. Và tất nhiên là, trong mùa phục sinh chúng ta lại có nhiều dịp để thực hiện ý tưởng chúng ta nay đã phục sinh! mỗi năm càng hoàn hảo hơn.

    Khổng Nhuận
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ VN
  • Emailto:khongnhuan@gmail.com
  •